14/10/2019 20:38Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thất thập nhị nghi trủng
七十二疑冢

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 18/12/2005 22:56

 

Nguyên tác

鄴城城外野風吹,
秋草蕭蕭舊事非。
枉用一人無限智,
空留萬古許多疑。
臭名滿槨藏何用,
賊骨千年罵不知。
何似錦城先主廟,
至今松柏有光輝。

Phiên âm

Nghiệp thành[1] thành ngoại dã phong xuy,
Thu thảo tiêu tiêu cựu sự phi.
Uổng dụng nhất nhân vô hạn trí,
Không lưu vạn cổ hứa đa nghi.
Xú danh mãn quách tàng hà dụng,
Tặc cốt thiên niên mạ bất tri.
Hà tự Cẩm Thành Tiên chủ miếu[2],
Chí kim tùng bách hữu quang huy.

Dịch nghĩa

Bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi
Cỏ thu tiêu điều, việc cũ đã qua
Dùng mưu trí vô hạn của một người thật uổng phí
Chỉ để lại bao nỗi ngờ cho muôn đời sau
Tiếng xấu đầy hòm, chôn giấu để làm chi
Nắm xương giặc nghìn năm bị chửi rủa mà không biết
Sao bằng miếu Tiên chủ ở Cẩm Thành
Đến nay cây tùng cây bách còn chiếu sáng

Bản dịch (của Bản dịch của Đặng Thế Kiệt)

Nghiệp Thành gió thổi vi vu
Chuyện xưa qua mất, cỏ thu tiêu điều
Uổng người mưu trí bao nhiêu
Muôn đời để lại lắm điều hồ nghi
Tiếng nhơ hòm dấu ích chi
Nghìn năm chửi rủa biết gì nắm xương
Không bằng Tiên chủ miếu đường
Cẩm Thành tùng bá sáng gương đến giờ
Thất thập nhị nghi trủng: Tào Tháo 曹操 (155-220), tự là Mạnh Đức 孟德, thời Kiến An có công thống nhất bắc Trung Quốc, làm quan đến chức thừa tướng, phong Nguỵ Vương 魏王. Tào Tháo nổi tiếng là người đại mưu trí, có tánh đa nghi. Trước khi chết, sợ sau này có kẻ đào mồ, Tào Tháo cho làm 72 ngôi mộ giả ở ngoài Nghiệp Thành 鄴城 là nơi chôn mình. Nguyễn Du, trên đường đi sứ Yên Kinh năm Quí Dậu (1813), đã đi qua thành Nghiệp, vào mùa thu năm đó.

[1] Nay thuộc huyện Lâm Chương 臨漳 tỉnh Hà Nam 河南.
[2] Miếu thờ Lưu Bị 劉備 ở Cẩm Thành 錦城, phía nam huyện Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên 四川 tức đất Ba Thục 巴蜀 xưa của nhà Hán, nơi Lưu Bị đóng đô.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Thất thập nhị nghi trủng