14/10/2019 15:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đề sát viện Bùi công “Yên Đài anh ngữ” khúc hậu
題察院裴公燕臺嬰語曲後

Tác giả: Cao Bá Quát - 高伯适

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 26/08/2005 16:22

 

Nguyên tác

衡岳太行天下山,
黃河江漢天下水。
誰遣三尺繩床間,
疊疊重重見流峙。
此中無數聖賢豪,
與我來往盡知己。
病中忽坐坐忽起,
闔吾兩目閉吾耳。
澄神滌慮默以遊,
若身吾歷足吾履。
起余者誰裴使君,
腳底江山萬餘里。  
歸來滿腹貯圖書,
咄咄男兒真快事。
嗟我閉戶雕虫侈口咬文字。
有如尺蠖量天地,
自從泛海歷巴山。
始覺六合何茫茫,
向昔文章等兒戲。
世間誰是真男子,
枉箇平生讀書史。
燕臺使者老世途,
尚學嬰言欲何俟。
君不見:
高臥室中倦遊士,
四壁名山爛如綺。
禽向高蹤邈不扳,
一名羈絆長如此。
嗚呼:
一名羈絆長如此,
白髮青袍吾老矣。

Phiên âm

Hành, Nhạc, Thái Hàng[1] thiên hạ sơn,
Hoàng Hà, Giang, Hán[2] thiên hạ thuỷ.
Thuỳ khiển tam xích thằng sàng gian,
Điệp điệp trùng trùng kiến lưu trĩ.
Thử trung vô số thánh hiền hào,
Dữ ngã lai vãng tận tri kỷ.
Bệnh trung hốt toạ, toạ hốt khỉ (khởi),
Hạp ngô lưỡng mục, bế ngô nhĩ.
Trừng thần địch lự mặc dĩ du,
Nhược thân ngô lịch, túc ngô lý.
Khởi dư giả thuỳ? Bùi sứ quân!
Cước để giang sơn vạn dư lý.
Quy lai mãn phúc trữ đồ thư,
Đốt đốt nam nhi chân khoái sự!
Ta ngã bế hộ điêu trùng, xỉ khẩu giảo văn tự.
Hữu như xích hoạch lượng thiên địa,
Tự tòng phiếm hải lịch Ba Sơn[3].
Thuỷ giác lục hợp hà mang mang!
Hướng tích văn chương đẳng nhi hí!
Thế gian thuỳ thị chân nam tử,
Uổng cá bình sinh độc thư sử.
Yên Đài sứ giả lão thế đồ,
Thượng học anh ngôn dục hà xĩ?
Quân bất kiến:
Cao ngoạ thất trung quyện du sĩ,
Tứ bích danh sơn lạn như ỷ.
Cầm, Hướng[4] cao tung mịch bất phan,
Nhất danh cơ bạn trường như thử!
Ô hô!
Nhất danh cơ bạn trường như thử,
Bạch phát, thanh bào, ngô lão hĩ!

Bản dịch (của Bản dịch của Trúc Khê)

Thái Hàng, Hành Nhạc non cao,
Hoàng Hà, Giang Hán biết bao sông dài.
Xó giường cuộn khúc hôm mai,
Non xa nước lạ dường phơi cạnh mình.
Thánh hiền hào kiệt gần quanh,
Cùng ta đi lại ra tình chí thân.
Gượng đau vùng dậy bước lần,
Bít tai nhắm mắt thả thần ra chơi,
Tinh thần bay vượt ngàn khơi,
Chính mình đương được xa chơi cõi ngoài.
Ai bằng quan sứ Yên Đài,
Giang sơn nghìn vạn dặm dài ruổi dong.
Khi về chứa đựng đầy lòng,
Đời nam nhi ấy mới khơng uổng mà.
Nhai văn nhả chữ buồn ta,
Con giun còn biết đâu là cao sâu.
Tân Gia từ vượt con tầu,
Mới hay vũ trụ một bầu bao la.
Giật mình khi ở xó nhà,
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi.
Không đi khắp bốn phương trời,
Vùi đầu án sách uổng đời làm trai.
Bùi công sứ giả Yên Đài,
Môn chân tuế lộ, khiêm lời anh ngôn.
Thương ai bó gối nằm tròn,
Ngùi trông bốn mặt danh sơn rõ ràng.
Cao nhân dấu cũ mơ màng,
Chút danh chi để buộc ràng thân nhau.
Nỗi mình tưởng đến mà đau,
Chút danh theo đuổi, mái đầu hoa râm.
Bùi công tức Bùi Ngọc Quý (1769-1861), người huyện Tiên Lữ, trấn Sơn Nam (nay là Hải Hưng), đỗ cử nhân khoa Mậu Tí (1828), tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Minh Mệnh (1829), làm tổng đốc Bình Phú, năm Tự Đức thứ nhất (1848) đi sứ nhà Thanh. Ông để lại tập Yên Đài anh ngữ và nhiều văn thơ khác.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập - tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004
[1] Các ngọn núi nổi tiếng của Trung Quốc.
[2] Các sông dài và nổi tiếng của Trung Quốc.
[3] Tức Giang Lưu Ba, nơi Cao Bá Quát phải đi hiệu lực theo đoàn sứ bộ. Còn gọi là Tân Gia Ba, tức Singapore ngày nay. Thời đó Tân Gia Ba là thuộc địa của Anh Quốc.
[4] Cầm Khánh và Hướng Trường, hai cao sĩ đời Đông Hán. Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Cầm Khánh không chịu làm quan với Mãng, bỏ về ở ẩn. Hướng Trường nhà nghèo, học rộng, thường nói: “Ta đã biết giàu không bằng nghèo, sang không bằng hèn, chỉ chưa biết chết có bằng sống hay không thôi”, khi con trai con gái đều có vợ chồng rồi, ông kết giao với Cầm Khánh cùng đi chơi Ngũ Nhạc và các núi có tiếng trong thiên hạ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Cao Bá Quát » Đề sát viện Bùi công “Yên Đài anh ngữ” khúc hậu