01/11/2020 09:01Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu - 阮廷沼

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 20/07/2008 09:22

 

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh[1];
Căm loài dương tặc.

Ngoài sáu tỉnh hãy ngợi câu án đổ[2], dân nhờ vua đặng lẽ sống vui;
Trong một phương sao mắc chữ lục trầm, người vì nước rủ nhau chết ngặt!

Nhớ các linh xưa:
Tiếng đồn trung nghĩa đến xa;
Thói giữ cương thường làm chắc.

Từ thủa Tây qua cướp đất, xưng tân trào[3] gây nợ oan cừu;
Chẳng qua dân mắc nạn trời, hoài cựu chúa[4] mang lời phản trắc.

Các bậc sĩ nông công cổ, liền mang tai với súng song tâm[5];
Mấy nơi tổng lý xã thôn, đều mắc hại cùng cờ tam sắc.

Bọn tam giáo[6] quen theo đường cũ, riêng than bất hạnh mang nghèo;
Bầy cửu lưu[7] cứ nối nghề xưa, thầm tủi vô cô chịu cực.

Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo;
tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.

Trải mười mấy năm trầy khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên;
Đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông hoặc biển hoặc núi hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.

Khá thương thay!
Dân sa nước lửa chầy ngày;
Giặc ép mỡ giàu hết sức.

Đành những kẻ cha thù anh oán, nhảy vòng báo ứng đã cam;
Cực cho người vợ goá con côi, gây đoạn thảm sầu khôn dứt.

Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời;
Phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất.

Nghĩ nỗi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào mấy kẻ khóc than;
Tưởng câu danh lợi tuồng đời, trường khối lỗi mặc dầu ai náo nức.

Trời hỡi trời!
Lòng nghĩa dân phải với ngô quân;
Tiếng nghịch đảng lỗi cùng địch vức[8].

Gần Côn Lôn xa đại hải, máu thây trôi nổi ai nhìn;
Hàng cai đội bậc quản cơ, xương thịt rã rời ai cất?

Sống thời chịu nắng sương trời một góc, khó đem sừng ngựa hẹn quy kỳ;
Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng, khôn mượn thư nhàn đưa tin tức.

Thấp thoáng hồn hoa phách quế, lòng cố hương gửi lại bóng trăng thu;
Bơ vơ nước quỷ non ma, hơi âm sát về theo luồng gió bấc.

Như vậy thì:
Số dẩu theo sáu nẻo luân hồi[9];
Khí sao để trăm năm uất ức[10].

Trời Gia Định ngày chiều ráng bắn, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ;
Đất Biên Hoà đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn trời hiu hắt.

An Hà quận đang khi bạch trú[11], gió cây vụt thổi cát xoáy bay con trốt dậy bên thành;
Long Tường Giang mỗi lúc hoàng hôn, khói nước sông mù, lửa huỳnh nháng binh ma chèo dưới vực.

Nhìn mất chặng cờ lau trống sấm[12], mỉa mai trận nghĩa gửi binh tình;
Thảm đòi ngàn ngựa gió xe mây, mường tượng vong linh về chiến lật.

Thôi!
Người lạc phách theo miền giang hải, cung ngao lẩn thẩn, dành một câu thân thế phù trầm;
Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, luỹ kiến đồn ong, còn bốn chữ “âm dung phảng phất”.

Ôi!
Sống muốn cho an;
Thác sao rằng bức?

Dẫu sớm thấy ngọn cờ điếu phạt[13], phận thần dân đâu chẳng toan còn;
Chưa kịp nghe tiếng trống an nhương[14], nghĩa quân phụ nào dè chết mất.

Hoặc là sợ như đất triêu Tần mộ Sở[15], cuộc can qua sông cũng ở ghê mình;
Hoặc là e như trời nam Tống bắc Kim[16], đường binh cách thác đi cho khuất mặt.

Tiếc non nước ấy nhân dân dường ấy, gây sự này nào thấy phép tẩy oan;
Biết cha mẹ đâu tộc loại ở đâu, chạnh tình đó mới ra ơn điếu tuất[17].

Tuy uổng mệnh hãy chờ khi sách mệnh[18], sẵn vòng quả báo vấn vương;
Song oan hồn chưa có kẻ chiêu hồn, khiến tấm linh bài[19] bực tức.

Nhớ phận áo cơm đất nước, trọn mấy năm ngóng cổ trông quan[20];
So bề mồ mả ông cha, còn hơn đứa đành lòng theo giặc.

Đến nay:
Cám cảnh Nam Trung;
Trách lòng tạo vật.

Ví như sĩ sinh đời Đông Tấn, nay đánh Hồ mai dẹp Yết, thời phơi gan trong đám tinh chiên[21];
Nào phải dân ở cõi U Yên, sớm đầu Hạ, tối về Liêu, mà trây máu bên đường kinh cức[22].

Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân[23] còn cuộc nghĩa binh;
Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ[24] hết lòng mưu quốc.

Muôn dặm giang sơn triều thánh đố, gian sơn còn hơi chính đều còn;
Nghìn năm hồn phách nạn dân này, hồn phách mất tiếng oan nào mất.

Dẫu đặng ơn nhuần khô cốt, cơn trị bình nào thấy đạo vương[25];
Muốn cho phép vớt linh hồn, buổi ly loạn khôn cầu kinh Phật.

Ôi!
Trời xuống nàn quỷ trắng mấy năm;
Người uống giận suối vào vàng lắm bực.

Cảnh Nam thổ phơi màu hoa thảo, đọng tình oan nửa úa nửa tươi;
Cõi Tây thiên treo bức vân hà, kết hơi oán chặng thưa chặng nhặt.

Ngày gió thổi lao xao tin dã mã[26], thoắt nhóm thoắt tan thoắt lui thoắt tới, như tuồng bán dạng linh tinh;
Đêm trăng lời giéo giắt tiếng đề quyên[27], dường hờn dường mến dường khóc dường than, đòi đoạn tỏ tình oan khuất.

Xưa nghe có bến sông Vị Thuỷ[28], lấy lễ nhân đầu tế lũ hồn oan;
Nay biết đâu bãi cát Trường Sa, mượn của âm phù độ bè quỷ ức.

Đốt lọn nhang trầm trời đất chứng, chút gọi là làm lễ vãn vong;
Đọc bài văn tế quỷ thần soi, xin hộ đó theo đường âm chất[29].

Hỡi ôi! Thương thay! Có linh xin hưởng.
1874 (có tài liệu ghi 1884)

Tiêu đề có nơi chép là Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh. Lục tỉnh là tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn, gồm Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Sau khi bình định xong miền Nam, thực dân Pháp nghe tiếng Nguyễn Đình Chiểu được nhân dân kính trọng nên tìm cách lôi kéo để thu phục lòng dân, nhưng nhiều lần ông đều thẳng thừng từ chối. Thấy lôi kéo không được, tên thống đốc Nam Kỳ cho tỉnh trưởng Bến Tre là Michel Ponchon đến săn sóc, hỏi ông muốn gì nhà nước sẽ giúp cho. Ông chỉ xin được điếu tế một tuần những vong hồn người Việt mộ nghĩa. Tên tỉnh trưởng bằng lòng nhưng đề nghị phần tổ chức thuộc về y. Chiều trước hôm lễ một ngày, ông ra nhà lồng chợ, sai con thắp một bó nhang trên bàn thờ để mấy chén nước lạnh, rồi phủ phục đọc bài tế này. Dân chúng kéo đến xem rất đông, ông đọc đến đâu mọi người đều sa lệ đến đó. Đọc xong, ông nằm vật ra khóc và xỉu đi, người nhà phải vực xuống thuyền chở về. Sáng hôm sau, tên tỉnh trưởng cho người đem cờ xí, lễ vật đến tổ chức theo kế hoạch thì việc đã xong rồi.

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học, Hà Nội, 1971
2. Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
[1] Người mù ở một nơi biên ải. Tác giả có ý tự than thân mình.
[2] Yên vách, chỉ lúc đang được yên ổn, mọi nhà đều yên vách làm ăn không sợ bị quấy phá.
[3] Người Pháp khi mới sang xâm chiếm tự xưng là Tân trào, tức trào lưu vận hội mới.
[4] Chỉ nhà Nguyễn.
[5] Súng hai nòng.
[6] Các đạo Nho, Đạo, Thích. Câu này trách những người trong giới Nho, Đạo, Thích ở trước hoạ xâm lăng mà không làm gì được, chỉ than thân phận, đổ lỗi cho trời mà thôi.
[7] Tay chân nhân sĩ có học
[8] Nhà Nguyễn chủ hoà nhưng nhân dân lại chủ chiến.
[9] Là thiên đạo, địa đạo, quỷ đạo, thần đạo, nhân đạo, vật đạo.
[10] Đời sống lại phải đành chịu những uất ức.
[11] Ban ngày.
[12] Chỉ những đạo nghĩa quân.
[13] Thăm dân để đánh kẻ có tội. Do tích vua Thang đánh vua Kiệt, quân của vua Vũ đánh vua Trụ, gọi là quân điếu phạt.
[14] Dẹp tan giặc giã để đem lại thái bình.
[15] Sáng thì Tần, chiều thì Sở.
[16] Chỉ tình hình đất nước đang rối loạn.
[17] Thương xót.
[18] Đòi lại mạng sống.
[19] Bài vị để thờ những người chết.
[20] Mấy năm nhân dân đánh giặc, triều đình không tiếp tay giúp đỡ.
[21] Hôi tanh.
[22] Gai góc.
[23] Trương Định.
[24] Phan Thanh Giản.
[25] Lối cai trị đời Tam vương, làm cho thiên hạ âu ca thái bình.
[26] Ngựa đồng, chỉ nghĩa quân còn sót lại ở nay đây mai đó.
[27] Tiếng cuốc kêu.
[28] Đời Tam Quốc, Khổng Minh đánh tan Mạnh Hoạch, lúc trở về qua sông Vị Thuỷ gặp sóng dữ không qua được, phải lấy xôi nặn thành hình đầu người để tế các oan hồn chiến sĩ trận vong, sóng gió mới im lặng.
[29] Đường tiêu diêu nơi tiên cảnh cực lạc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Đình Chiểu » Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong