20/09/2019 14:23Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng Tiên Lưu thiếu phủ tân hoạ sơn thuỷ chướng ca
奉先劉少府新畫山水障歌

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 19/01/2014 20:59

 

Nguyên tác

堂上不合生楓樹,
怪底江山起煙霧。
聞君掃卻赤縣圖,
乘興遣畫滄洲趣。
畫師亦無數,
好手不可遇。
對此融心神。
知君重毫素。
豈但祁嶽與鄭虔,
筆蹟遠過楊契丹。
得非懸圃裂,
無乃瀟湘翻。
悄然坐我天姥下,
耳邊已似聞清猿。
反思前夜風雨急,
乃是蒲城鬼神入。
元氣淋漓障猶濕,
真宰上訴天應泣。
野亭春還雜花遠,
漁翁暝蹋孤舟立。
滄浪水深青溟闊,
欹岸側島秋毫末。
不見湘妃鼓瑟時,
至今斑竹臨江活。
劉侯天機精,
愛畫入骨髓。
自有兩兒郎,
揮灑亦莫比。
大兒聰明到,
能添老樹巔崖里。
小兒心孔開,
貌得山僧及童子。
若耶溪,雲門寺。
吾獨胡為在泥滓,
青鞋布襪從此始。

Phiên âm

Đường thượng bất hợp sinh phong thụ,
Quái để giang sơn khởi yên vụ.
Văn quân tảo khước Xích huyện[1] đồ,
Thừa hứng khiển hoạ Thương châu[2] thú.
Hoạ sư diệc vô số,
Hảo thủ bất khả ngộ.
Đối thử dung tâm thần.
Tri quân trọng hào tố.
Khởi đãn Kỳ Nhạc[3] dữ Trịnh Kiền[4],
Bút tích viễn quá Dương Khiết Đan[5].
Đắc phi Huyền phố[6] liệt,
Vô nãi tiêu tương phiên.
Tiễu nhiên toạ ngã thiên mụ hạ,
Nhĩ biên dĩ tự văn thanh viên.
Phản tư tiền dạ phong vũ cấp,
Nãi thị bồ thành quỷ thần nhập.
Nguyên khí lâm ly chướng do thấp,
Chân tể thượng tố thiên ưng khấp.
Dã đình xuân hoàn tạp hoa viễn,
Ngư ông minh tháp cô chu lập.
Thương lãng thuỷ thâm thanh minh khoát,
Y ngạn trắc đảo thu hào mạt.
Bất kiến Tương phi[7] cổ sắt thì,
Chí kim ban trúc lâm giang hoạt.
Lưu hầu thiên cơ tinh,
Ái hoạ nhập cốt tuỷ.
Tự hữu lưỡng nhi lang,
Huy sái diệc mạc tỷ.
Đại nhi thông minh đáo,
Năng thiêm lão thụ điên nhai lý.
Tiểu nhi tâm khổng khai,
Mạo đắc sơn tăng cập đồng tử.
Nhược Da khê, Vân Môn tự.
Ngô độc hồ vi tại nê chỉ,
Thanh hài bố mạt tòng thử thuỷ.

Dịch nghĩa

Hình giống cây phong không có đất mà mọc được trong phòng?
Sương khói phủ trên núi sông quái lạ làm sao!
Nghe nói ông vẽ bức rừng phong huyện nhà trước,
Thừa hứng mới vẽ thêm bức sơn thuỷ.
Hoạ sĩ thì thiếu gì,
Nhưng người tài hoa khó mà gặp được.
Toàn tranh biểu lộ tâm và thần hoà hợp,
Nhìn nét vẽ biết ông cẩn trọng trong việc dùng bút và lụa.
Há chỉ có Kỳ Nhạc và Trịnh Kiền nổi danh thôi sao,
Nét bút của ông vượt xa Dương Khiết Đan.
Núi đẹp như Huyền Phố vừa tách ra khỏi dãy Côn Lôn,
Sông như vừa từ vùng Tiêu Tương tới.
Lặng yên hồi tưởng như đang ngồi dưới núi Thiên Mụ,
Bên tai còn vẳng nghe tiếng vượn hú trong trẻo.
Nhớ lại đêm trước mưa to gió lớn,
Chắc là quỷ thần đang nhập vào nét vẽ của ông trong huyện nhà.
Nguyên khí còn ướt trên bức chướng,
Rõ ràng là trời cũng cảm động rơi lệ vì vẽ tài tình.
Tranh sơn thuỷ tả xuân về trên đình với hoa rừng xa xa,
Ông lão thuyền chài đứng trên thuyền cô đơn khi chiều xuống.
Sóng xanh, dòng sâu, chảy ra biển rộng,
Nét bút tài hoa vẽ bờ nghiêng, góc đảo mùa thu.
Lúc hồn Tương phi gảy đàn gõ trống không thấy,
Nhưng tới nay, ban trúc còn mọc đầy bên sông.
Quan lớn họ Lưu có thiên tài,
Say mê nghề vẽ từ trong xương tuỷ.
Có hai cậu con trai,
Nét vẽ cũng không ai sánh kịp.
Cậu cả cực kỳ thông minh,
Vẽ được bức cây cổ thụ trên vách đá cao.
Cậu út lòng rộng mở,
Vẽ được bức sư quê bên chú tiểu.
Tại chùa Vân Môn, bên suối Nhược Da.
Ta sống một mình nơi bùn lầy nước đọng,
Đi giày xanh vớ vải từ ban đầu tới nay.

Bản dịch (của Bản dịch của Nhượng Tống)

Quái lại trên thềm sao mọc cây?
Rồi sông cùng núi! Khói cùng mây!
Chải tranh Xích huyện, vừa khô mực
Vẽ cảnh Thương Châu, lại hứng tay!
Thợ vẽ kể ra đầy
Tài hoa khó gặp thay
Biết ông trọng từng nét
Ngắm nghía lòng mê say
Trịnh Kiền, Kỳ Nhạc bút chưa già
Dương Khiết Đan xem cũng kém xa
Vườn Huyền chắc vừa lẩy
Dòng Tương chừng mới sa
Đặt ta ngồi xó đỉnh Thiên Mụ
Vượn hót bên tai nghe thiết tha
Gió đưa đêm trước thì ra bởi
Thần quỷ quanh miền khuân vác tới
Khí thiêng còn đẫm trên tranh mới
Trời phải khóc vì tài hạ giới
Quán quê xuân tới, rối màu hoa
Ngư phủ thuyền buông giữa bóng tà
Bể xanh nước lộn trời xanh rộng
Đảo lệch, bờ nghiêng lấm chấm xa
Nào thấy nàng Tương khi dạo phím
Bên sông trúc hoá vẫn rườm rà
Ông Lưu người tỉ mỉ
Mê tranh đến xương tuỷ
Lại được hai cậu con
Vẽ vời đều sáng ý
Cậu lớn thông minh thay:
Chấm thêm đỉnh núi một đôi cây!
Cậu khỏ đã có khiếu:
Vẽ sư, vẽ trẻ coi hay hay!
Suối Nhược Da! Chùa Cửa Mây!
Ta ở làm chi giữa vũng lầy?
Tất gai, dép cỏ kể từ đây!
(Năm 754)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1, 2, 6] Tên cảnh tiên.
[3, 4, 5] Tên danh hoạ thời đó.
[7] Tức Nga Hoàng và Nữ Anh, vợ vua Thuấn. Vua Thuấn mất ở Thương Ngô, hai bà đi tìm tới bến sông Tương ngồi khóc, nước mắt vương vào cành trúc hoá thành giống trúc có vân gọi là ban trúc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phụng Tiên Lưu thiếu phủ tân hoạ sơn thuỷ chướng ca