23/10/2021 21:34Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Cùng thanh
蛩聲

Tác giả: Thái Thuận - 蔡順

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Hà Như vào 24/04/2010 04:50

 

Nguyên tác

九秋風露正淒淒,
如此誰悲作衣啼。
唧唧已應鳴月砌,
喓喓還自繞霜閨。
愁來旅舍成孤起,
老去宮粧怨獨棲。
多感更堪歐氏子,
吟窗坐到玉澠低。

Phiên âm

Cửu thu phong lộ chánh thê thê,
Như thử thuỳ bi tác ý đề.
Tức tức dĩ ưng minh nguyệt xế[1],
Yêu yêu hoàn tự nhiễu sương khuê[2].
Sầu lai lữ xá thành cô khởi,
Lão khứ cung trang[3] oán độc thê.
Đa cảm cánh kham Âu Thị Tử[4],
Ngâm song toạ đáo Ngọc Thằng[5] đê.

Dịch nghĩa

Mùa thu tháng chín chính là lúc gió sương lạnh lùng,
Nỗi buồn của ai mà dụng ý soạn thành khúc ngâm như thế?
Tiếng rỉ rả đã nghe gọi nơi thềm trăng, rồi
Giọng nỉ non lại trở đoanh (?) chốn phòng sương nữa.
Sầu đến, thân quán khách trở dậy một mình,
Già sang, gái trong cung oán cảnh đơn chiếc.
Lòng đa cảm lại thêm thương ông Âu Vĩnh Thúc,
Nên sao Ngọc Thằng đã xuống thấp mà còn ngồi nơi song ngâm.

Bản dịch của Quách Tấn

Thu dồn móc vọng thê lương,
Nỗi ấy vì ai rắc đoạn trường?
Rỉ rả thềm không chênh gác nguyệt,
Nỉ non canh cánh lạnh phòng sương.
Đầy gương tuyết nhuộm hờn cung nữ,
Nửa gối sầu đoanh (?) mộng cố hương.
Đối bóng thêm thương tình Vĩnh Thúc,
Ngọc Thằng đã xế triện (?) còn vương.
Nguồn: Quách Tấn, Thái Thuận - Lữ Đường thi, NXB Văn học, 2001, trang 172
Chữ "đoanh" (câu 6) và chữ "triện" (câu 8) trong bản dịch chưa rõ nghĩa, chưa có giải thích trong sách nguồn.
[1] Thềm trăng, thềm vắng người, chỉ có trăng.
[2] Phòng sương, phòng của người quả phụ, hơi sương lạnh lùng.
[3] Dung mạo trong cung cấm, chỉ Cung phi, Mỹ nữ hầu hạ nhà vua.
[4] Âu Dương Tu, tự Vĩnh Thúc, một trong tám người nổi tiếng văn chương đời Đường Tống, ông có kiệt tác Thu thanh phú.
[5] Tên một nhóm sao lặn về hướng tây lúc trời sắp sáng. Bản nguồn chép tay là 玉澠 các sách khác đều viết là 玉繩(绳): chỉ nhóm sao Ngọc Thằng. Vẫn để nguyên bản, chưa sửa.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thái Thuận » Cùng thanh