19/09/2020 10:55Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hồng Đức thập bát niên Đinh Mùi tiến sĩ đề danh ký
洪德十八年丁未進士題名記

Tác giả: Thân Nhân Trung - 申仁忠

Thể thơ: Tản văn; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 29/12/2019 23:38

 

Nguyên tác

天啟國家億萬年太平之治、必生賢才、以為之用焉。蓋治化之盛、本於得賢;賢才之多、由於教養。詩曰:思皇多士、生此王國。又曰:周王壽考、遐不作人。然則開太平悠久之治、非才人之盛、奚以致之。

洪惟聖朝、太祖高皇帝、革天創元之初、以建學養賢為先務。列聖相承、先猷祇若、設科取士、列于庶僚、規模宏遠矣。

皇上中興、增其式廓、孜孜求治、亹亹用儒;至今廾有八年、大比開科、於此凡九。迺洪德十八年丁未三月、禮部循故典、奉明命。會試天下士人、拔其尤者、六十名。

四月初七日、皇上臨軒策其治道。覽卷之餘、又宣召優等士人入月光門、親自鑒別;以陳崇穎為第一,阮德訓次之、申景雲又次之、並賜進士及第;武耿等三十名、賜進士出身;范珍第二十七名、賜同進士出身。蓋慎重其選也。

五月初四日、上御敬天殿、臚傳唱第、百官朝服稱賀、揭黃榜于東華門外;天下士庶、聚首翕觀、咸謂聖代文明、人才輩出實盛世之嘉遇也。賞賜品物儀文、一如前例。皇上以為頒其恩寵、固已示耀於一時、揭姓名刻金石、方可昭垂於永久;又命起部礱石題名、命臣仁忠記其事。

臣竊惟人才之殷盛、固關於天地之氣化、尤本於聖人之教化。有天地之氣化、則真元會合、磅磚絪縕、故生此濟濟之多;有聖人之教化、則文德薰陶、融液布護、故成此靄靄之美。孔子曰:唐虞之際、於斯為盛、其真元之會合歟?詩曰:古之人無斁、譽髦斯士、其文德之薰陶歟?

方今氣化淳庬、治教休顯、參天地而建極、肩虞周而並隆;生才之多、異於昔時、得人之盛、倍於往日;可以驗教化之成就、表國家之休祥也。士之登名斯石、何其幸耶!固當忠義自期、名實相副;行其所學、以成俊偉光明之業。使天下後世翹企其聲光、豔慕其賢烈;庶幾上不負朝廷涵育之仁、下不負平生致澤之薀;則斯石之刻、永承不朽矣。倘文庬於外、行歉於中、所見不逮所聞、所行非其所學、墮士檢玷名教、適足以為斯石之瑕;非朝廷所望於士君子之意、亦非士君子之所以自待也。

於虖!幼學壯行、窮經致用之志、人皆有之。而今而後凡士生斯世、預斯文、目斯石者尚致意焉!謹識諸石、庸示將來。

奉直大夫翰林院承旨東閣大學士資政上卿臣申仁忠奉敕撰。
茂林佐郎中書監典書臣阮瑾奉敕書。
謹事郎金光門待詔臣阮仁惠奉敕篆。
洪德十八年八月十五日立。

Phiên âm

Thiên khởi quốc gia ức vạn niên thái bình chi trị, tất sinh hiền tài, dĩ vị chi dụng yên. Cái trị hoá chi thịnh, bản ư đắc hiền; hiền tài chi đa, do ư giáo dưỡng. Thi viết: “Tư hoàng đa sĩ, Sinh thử vương quốc”. Hựu viết: “Chu vương thọ khảo, Hà bất tác nhân”. Nhiên tắc khai thái bình du cửu chi trị, phi tài nhân chi thịnh, hề dĩ trí chi.

Hồng duy thánh triều, Thái Tổ Cao hoàng đế, cách thiên sáng nguyên chi sơ, dĩ kiến học dưỡng hiền vi tiên vụ. Liệt thánh tương thừa, tiên du kỳ nhược, thiết khoa thủ sĩ, liệt vu thứ liêu, quy mô hoành viễn hĩ.

Hoàng thượng trung hưng, tăng kỳ thức khuếch, tư tư cầu trị, vỉ vỉ dụng nho; chí kim trấp hữu bát niên, đại tỉ khai khoa, ư thử phàm cửu. Nãi Hồng Đức thập bát niên Đinh Mùi tam nguyệt, Lễ bộ tuần cố điển, phụng minh mệnh. Hội thí thiên hạ sĩ nhân, bạt kỳ vưu giả, lục thập danh.

Tứ nguyệt sơ thất nhật, Hoàng thượng lâm hiên sách kỳ trị đạo. Lãm quyển chi dư, hựu tuyên triệu ưu đẳng sĩ nhân nhập Nguyệt Quang môn, thân tự giám biệt; dĩ Trần Sùng Dĩnh vi đệ nhất, Nguyễn Đức Huấn thứ chi, Thân Cảnh Vân hựu thứ chi, tịnh tứ tiến sĩ cập đệ; Vũ Cảnh đẳng tam thập danh, tứ tiến sĩ xuất thân; Phạm Trân đệ nhị thập thất danh, tứ đồng tiến sĩ xuất thân. Cái thận trùng kỳ tuyển dã.

Ngũ nguyệt sơ tứ nhật, thượng ngự Kính Thiên điện, lư truyền xướng đệ, bách quan triều phục xưng hạ, yết hoàng bảng vu Đông Hoa môn ngoại; thiên hạ sĩ thứ, tụ thủ hấp quan, hàm vị thánh đại văn minh, nhân tài bối xuất thực thịnh thế chi gia ngộ dã. Thưởng tứ phẩm vật nghi văn, nhất như tiền lệ. Hoàng thượng dĩ vi ban kỳ ân sủng, cố dĩ kỳ diệu ư nhất thì, yết tính danh khắc kim thạch, phương khả chiêu thuỳ ư vĩnh cửu; hựu mệnh khởi bộ lung thạch đề danh, mệnh thần Nhân Trung ký kỳ sự.

Thần thiết duy: Nhân tài chi ân thịnh, cố quan ư thiên địa chi khí hoá, vưu bản ư thánh nhân chi giáo hoá. Hữu thiên địa chi khí hoá, tắc chân nguyên hội hợp, bảng chuyên nhân uân, cố sinh thử tế tế chi đa; hữu thánh nhân chi giáo hoá, tắc văn đức huân đào, dung dịch bố hộ, cố thành thử ải ải chi mỹ. Khổng Tử viết: “Đường Ngu chi tế, ư tư vi thịnh”, kỳ chân nguyên chi hội hợp dư? Thi viết: “Cổ chi nhân vô dịch, Dự mao tư sĩ”, kỳ văn đức chi huân đào dư?

Phương kim khí hoá thuần mang, trị giáo hưu hiển, tam thiên địa nhi kiến cực, kiên Ngu Chu nhi tịnh long; sinh tài chi đa, dị ư tích thì, đắc nhân chi thịnh, bội ư vãng nhật; khả dĩ nghiệm giáo hoá chi thành tựu, biểu quốc gia chi hưu tường dã. Sĩ chi đăng danh tư thạch, hà kỳ hạnh gia! Cố đương trung nghĩa tự kỳ, danh thực tương phó; hành kỳ sở học, dĩ thành tuấn vĩ quang minh chi nghiệp. Sử thiên hạ hậu thế kiều xí kỳ thanh quang, diễm mộ kỳ hiền liệt; thứ kỷ thượng bất phụ triêu đình hàm dục chi nhân, hạ bất phụ bình sinh trí trạch chi ôn; tắc tư thạch chi khắc, vĩnh thừa bất hủ hĩ. Thảng văn mang ư ngoại, hành khiểm ư trung, sở kiến bất đãi sở văn, sở hành phi kỳ sở học, đoạ sĩ kiểm điếm danh giáo, thích túc dĩ vi tư thạch chi hà; phi triêu đình sở vọng ư sĩ quân tử chi ý, diệc phi sĩ quân tử chi sở dĩ tự đãi dã.

Ư hô! Ấu học tráng hành, cùng kinh trí dụng chi chí, nhân giai hữu chi. Nhi kim nhi hậu phàm sĩ sinh tư thế, dự tư văn, mục tư thạch giả thượng trí ý yên! Cẩn thức chư thạch, dung kỳ tương lai.

Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính Thượng khanh thần Thân Nhân Trung phụng sắc soạn.
Mậu lâm tá Lang trung thư giám Điển thư thần Nguyễn Cận phụng sắc thư.
Cẩn sự lang Kim quang môn Đãi chiếu thần Nguyễn Nhân Huệ phụng sắc triện.
Hồng Đức thập bát niên bát nguyệt thập ngũ nhật lập.

Bản dịch của (Không rõ)

Trời mở thái bình thịnh trị muôn năm cho nước nhà, tất sinh hiền tài để giúp nước. Đó là vì sự hưng thịnh của trị đạo, giáo hoá có gốc ở sự thu dùng hiền tài. Có nhiều hiền tài hay không là do ở sự giáo dưỡng. Kinh Thi có câu: “Hiền sĩ tuấn kiệt, sinh ở nước vua”. Lại có câu: “Chu vương tuổi cao, lẽ nào không trồng người”. Như vậy, mở nền trị bình lâu dài, nếu không có nhiều nhân tài thì sao mà làm được?

Kính nghĩ thánh triều: Thái Tổ Cao hoàng đế từ lúc mới thay đổi mệnh trời, sáng lập triều đại đã lấy việc xây học hiệu, giáo dưỡng hiền tài làm việc trước tiên. Liệt thánh nối truyền trước hết lo mở khoa thi chọn kẻ sĩ, xếp đặt quan tước, quy mô thật rộng lớn.

Hoàng thượng trung hưng, mở rộng quy mô, luôn nghĩ cầu trị, sẵn lòng dùng Nho, đến nay đã 28 năm, mở khoa thi lớn cả thảy chín lần. Bèn đến tháng 3 năm Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1486), Bộ Lễ theo lệ cũ, vâng mệnh thánh minh, thi Hội các sĩ nhân trong nước, lựa chọn hạng ưu tú được 60 người.

Ngày mồng 7 tháng 4, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, ra câu hỏi về đạo trị nước. Sau khi xem quyển thi, lại gọi các sĩ nhân hạng ưu vào cửa Nguyệt Quang, đích thân xét định thứ bậc. Lấy Trần Sùng Dĩnh đỗ đầu, Nguyễn Đức Huấn đỗ thứ hai, Thân Cảnh Vân đỗ thứ 3, đều ban cho hạng Tiến sĩ cập đệ; bọn Vũ Cảnh 30 người được ban Tiến sĩ xuất thân; bọn Phạm Trân 27 người được ban đồng Tiến sĩ xuất thân. Đó là sự tuyển chọn rất thận trọng vậy.

Ngày mồng 4 tháng 5, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, loa truyền gọi tên người thi đỗ, các quan mặc triều phục chúc mừng, rước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa. Sĩ tử, dân chúng kéo nhau đến xem, đều bảo: đời thánh văn minh, nhân tài đông đảo, thật là cuộc gặp gỡ tốt đẹp của đời thịnh. Việc ban thưởng phẩm vật nghi thức y như điển cũ. Hoàng thượng cho rằng việc ban ân sủng chỉ vẻ vang nhất thời, còn họ tên phải khắc vào bia đá mới có thể truyền tới lâu dài. Bèn sai Bộ Công mài đá đề danh, lại sai thần là Nhân Trung viết bài ký ghi lại sự việc.

Thần trộm nghĩ: Nhân tài phồn thịnh vẫn quan hệ ở khí chất biến hoá của trời đất, nhưng chủ yếu vẫn do ở nền giáo hoá của bậc thánh nhân. Bởi vì khí chất trời đất biến hoá thì nguyên khí hội hợp rồi lan toả bàng bạc khắp nơi, cho nên mới có số nhiều đông đảo. Phải nhờ có giáo hoá của thánh nhân thì văn đức mới được tôi luyện hun đúc, tạo nên cảnh tốt đẹp đượm đà. Khổng Tử nói: “Khoảng đời Đường Ngu là thời thịnh”, đó là do khí chân nguyên hội hợp mà nên chăng? Kinh Thi nói: “Người xưa không biết chán, kẻ tài tuấn giỏi giang”, đó là sự hun đúc văn đức chăng?

Nay khí hoá thuần nhất rộng toả, trị giáo sáng tỏ đẹp cùng trời đất, sự hưng thịnh sánh ngang đời Ngu, Chu. Nhân tài đông đảo hơn thuở trước, kén được người giỏi nhiều gấp mấy ngày xưa, đủ sáng soi cho những thành tựu của nền giáo hoá, là biểu hiện tốt đẹp của nước nhà. Kẻ sĩ được đề danh vào bia đá này, thật may mắn biết bao! Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao danh và thực hợp nhau, làm những việc hợp sở học để làm nên sự nghiệp to lớn quang minh, khiến thiên hạ đời sau phải nhón chân lên mà nhắc nhở thanh danh, mến mộ khí tiết. Ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình dưỡng dục, dưới không phụ hoài bão thường ngày thì tấm đá khắc ra sẽ đời đời không mục vậy. Thảng hoặc có người ngoài có vẻ văn chương mà trong đức hạnh thiếu phần tu dưỡng, khiến cho cái mà người ta đọc được trên bia không giống như dư luận mà họ nghe biết, việc làm trái với sở học, làm huỷ hoại hạnh kiểm, điếm luỵ danh giáo thì là vết nhơ cho tấm đá này. Thế chẳng phải ý nguyện triều đình trông mong ở kẻ sĩ, cũng chẳng phải là cách kẻ sĩ dùng để tự đối đãi mình.

Ôi! Khi nhỏ đi học, khi lớn thực hành, đọc hết kinh sách để đem ra áp dụng hết mức, người ta đều có chí hướng ấy. Vậy thì từ nay về sau, kẻ sĩ sinh ở đời này, đọc bài văn này, nhìn tấm đá này phải nên suy nghĩ thế nào? Kính cẩn chép vào đá, ngõ hầu tỏ ý với tương lai.

Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung vâng sắc soạn.
Mậu lâm tá Lang trung thư giám Điển thư Nguyễn Cận vâng sắc viết chữ (chân).
Cẩn sự lang Kim quang môn Đãi chiếu Nguyễn Nhân Huệ vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 năm niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487).
Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) do Thân Nhân Trung soạn, lập ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487). Phần sau chép tên các tiến sĩ và các giám khảo. Viện Hán Nôm công bố.

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
- Trần Sùng Dĩnh[1] 陳崇穎 người huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Nguyễn Đức Huấn[2] 阮德訓 người huyện Chí Linh, phủ Nam Sách.
- Thân Cảnh Vân[3] 申景雲 người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 30 người:
- Vũ Cảnh[4] 武耿 người huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn.
- Nguyễn Thẩm Lộc[5] 阮審祿 người huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Nguyễn Lý Tường[6] 阮履祥 người huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên.
- Đinh Trung Thuần[7] 丁忠純 người xã Bằng Xá, huyện Yên.
- Bùi Đoan Giáo[8] 裴端教 người huyện Bình Hà, phủ Nam Sách.
- Nguyễn Bảo Khuê[9] 阮寶珪 người huyện Yên Lãng, phủ Tam Đới.
- Ngô Hoan[10] 吳驩 người huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín.
- Nguyễn Cẩn Liêm[11] 阮瑾廉 người huyện Siêu Loại, phủ Thuận An.
- Vũ Trật[12] 武秩 người huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Hoá.
- Vũ Triệt Vũ[13] 武澈瑀 người huyện Đại An, phủ Kiến Hưng.
- Phạm Viện[14] 范瑗 người huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương.
- Trịnh Quỳ[15] 鄭葵 người huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín.
- Nguyễn Ứng Triệu[16] 阮應肇 người huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng.
- Phạm Tuấn[17] 范駿 người huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Vũ Loan[18] 武鑾 người huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Lệ[19] 阮礪 người huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu.
- Nguyễn Lý Uyên[20] 阮理淵 người huyện Thanh Đàm, phủ Thường Tín.
- Nguyễn Thừa Phủ[21] 阮承黼 người huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai.
- Ngô Ngọc[22] 吳鈺 người huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn.
- Bùi Phổ[23] 裴溥 người huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn.
- Nguyễn Thuần Hỗ[24] 阮純嘏 người huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu.
- Phạm Hạo[25] 范皞 người huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn.
- Nguyễn Quảng Trinh[26] 阮廣貞 người huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng.
- Đỗ Đạt[27] 杜達 người huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai.
- Trần Hoành[28] 陳竤 người huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng.
- Phạm Bảo[29] 范寶 người huyện Đại An, phủ Kiến Hưng.
- Trần Bân[30] 陳彬 người huyện Tân Minh, phủ Nam Sách.
- Vũ Đôn[31] 武惇 người huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Đặng Minh Khiêm[32] 鄧鳴謙 người huyện Sơn Vi, phủ Thao Giang.
- Trần Kỳ[33] 陳琦 người huyện Thiên Bản, phủ Kiến Hưng.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 27 người:
- Phạm Trân[34] 范珍 người huyện Thanh Đàm, phủ Thường Tín.
- Nguyễn Thông Doãn[35] 阮通允 người huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên.
- Nguyễn Úc[36] 阮郁 người huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn.
- Phạm Nại[37] 范鼐 người huyện La Gian,g phủ Đức Quang.
- Vũ Phất[38] 武黻 người huyện An Dương, phủ Kinh Môn.
- Nguyễn Duy Minh[39] 阮惟明 người huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn.
- Nguyễn Diệu Huy[40] 阮耀輝 người huyện Thiện Tài, phủ Thuận An.
- Nguyễn Hanh Phu[41] 阮亨敷 người huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn.
- Nguyễn Thù[42] 阮洙 người huyện Đông An, phủ Khoái Châu.
- Nguyễn Nho Tông[43] 阮儒宗 người huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu.
- Nguyễn Tủng Mục[44] 阮竦穆 người huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng.
- Nguyễn Tuyên Cần[45] 阮宣勤 người huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách.
- Phạm Chân[46] 范甄 người huyện Cẩm Giang, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Tuân Đạo[47] 阮遵道 người huyện Chí Linh, phủ Nam Sách.
- Đoàn Huệ Nhu[48] 段惠柔 người huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng.
- Phạm Thịnh[49] 范盛 người huyện Gia Định, phủ Thuận An.
- Đặng Tán[50] 鄧讚 người huyện Sơn Vi, phủ Thao Giang.
- Đỗ Thuần Thông[51] 杜純聰 người huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu.
- Nguyễn Trinh Biểu[52] 阮貞表 người huyện Yên Lạc, phủ Tam Đới.
- Hoàng Ngạn Chương[53] 黃彥璋 người huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang.
- Phạm Hoà Xuân[54] 范和春 người huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên.
- Nguyễn Thận Lễ[55] 阮慎禮 người huyện Kim Hoa, phủ Bắc Giang.
- Lưu Túc[56] 劉肅 người huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đới.
- Vũ Mật[57] 武密 người huyện Đường An, phủ Thượng Hồng.
- Nguyễn Ngung[58] 阮顒 người huyện Thạch Thất, phủ Tam Đới.
- Nguyễn Ích Cữu[59] 阮益臼 người huyện Vĩnh Xương, phủ Phụng Thiên.
- Trình Chí Sâm[60] 程志森 người huyện Vĩnh Xương, phủ Phụng Thiên.

Đề điệu:
- Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Trụ quốc Kinh Dương bá Lê Quyền.
- Thượng thư Bộ Hình Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Quách Đình Bảo.

Độc quyển:
- Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung.
- Gia hạnh đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Đại học sĩ Khuông mỹ doãn Đỗ Nhuận.
- Hữu Thị lang Bộ Binh Hiển cung đại phu Nguyễn Đôn Phục.
- Hiển lượng đại phu Hàn lâm viện Thị thư Chưởng Hàn lâm viện sự [...] Sùng văn quán Tú lâm cục Tư huấn Lương Thế Vinh.
- Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Hiệu thư Đào Cử.
- Hiển cung đại phu hữu [...] phường Hữu duyệt thư Ông Nghĩa Đạt.

Giám thí:
- Tả Thị lang Bộ Lại Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Bùi Viết Lương.
- Ngự sử đài kiêm Đô Ngự sử Hiển cung đại phu Nguyễn Hoằng Thạc.


Bản dịch do Viện Hán Nôm công bố.
[1] Trần Sùng Dĩnh (1465-?) người xã Đông Khê, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Khi mất được dân bản xã phong làm phúc thần.
[2] Nguyễn Đức Huấn (?-?) người xã An Đình, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nhân Huệ, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Ninh Quận công và từng được cử đi sứ.
[3] Thân Cảnh Vân (1463-?) người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông là cháu nội Thân Nhân Trung, con của Thân Nhân Tín và làm quan Thị lang.
[4] Vũ Cảnh (1462-?) người xã Dưỡng Động, huyện Thuỷ Đường (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng), trú quán xã Kim Đôi, huyện Lang Tài (nay thuộc xã Kim Chân, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.
[5] Nguyễn Thẩm Lộc (1464-?) người xã Đồn Bối, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Hồng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Tham chính. Khi mất, ông được tặng Phó Đô Ngự sử.
[6] Nguyễn Lý Tường (?-?) người xã Bình Hà, huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[7] Đinh Trung Thuần (1463-?) người xã Phùng Xá, huyện Ý Yên (nay thuộc xã Yên Khánh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông làm quan Thượng thư.
[8] Bùi Đoan Giáo (?-?) người xã Đại Điền, huyện Bình Hà (nay thuộc xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thông chính sứ và từng được cử đi sứ.
[9] Nguyễn Bảo Khuê (1456-?) người xã Lý Hải, huyện Yên Lãng (nay thuộc Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình, Đô đình uý, thành viên Hội Tao Đàn và từng được cử đi sứ.
[10] Ngô Hoan (1452-?) người xã Nghiêm Xá, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử, thành viên Hội Tao Đàn và từng được cử đi sứ.
[11] Nguyễn Cẩn Liêm (?-?) người xã Đại Đồng, huyện Liêu Loại (nay là xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến chức Tả Thị lang.
[12] Vũ Trật (1463-?) người xã Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương (nay thuộc địa phận huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
[13] Vũ Triệt Vũ (1460-?) người xã Đào Lãng, huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình.
[14] Phạm Viện (?-?) người huyện Vũ Tiên (nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tham Chính. Có sách ghi ông là Nguyễn Viên.
[15] Trịnh Quỳ (1460-?) người xã Tử Dương, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
[16] Nguyễn Ứng Triệu (?-?) người huyện Tứ Kỳ (thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương ngày nay). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[17] Phạm Tuấn (1453-?) người xã Đồn Bối, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Hồng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tri phủ.
[18] Vũ Loan (?-?) người xã Tuy Lai, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[19] Nguyễn Lệ (?-?) người xã Bình Hồ, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Thổ Hoàng cùng huyện. Ông làm quan Thị lang.
[20] Nguyễn Lý Uyên (1463-?) người xã Cổ Điển, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu lý.
[21] Nguyễn Thừa Phủ (?-?) người xã Yên Nội, huyện Ninh Sơn (nay thuộc xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh. Có sách chép ông là Nguyễn Thừa Phất.
[22] Ngô Ngọc (1475-?) người làng Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Lễ khoa Đô Cấp sự trung.
[23] Bùi Phổ (1463-?) người xã Lê Xá, huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Tú Sơn, huyện Kiến Thuỵ, TP Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu lý và là thành viên Hội Tao Đàn.
[24] Nguyễn Thuần Hỗ (1469-?) người xã Trà Mạt, huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Hồng Vân, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
[25] Phạm Hạo (?-?) người xã Quỳnh Khê, huyện Kim Thành (nay thuộc xã Kim Xuyên, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
[26] Nguyễn Quảng Trinh (?-?) người xã Hoàng Gia, huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[27] Đỗ Đạt (1460-?) người xã Nguyễn Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
[28] Trần Hoành (?-?) người xã Ngọc Tái, huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Ngọc Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm.
[29] Phạm Bảo (?-?) người huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông làm quan Phó Đô Ngự sử.
[30] Trần Bân (?-?) người xã Lạc Đông, huyện Tân Minh (nay thuộc huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Lại kiêm Quốc tử giám Tế tửu.
[31] Vũ Đôn (?-?) người xã Mộ Trạch, huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[32] Đặng Minh Khiêm (?-?) hiệu là Thoát Hiên và tự Trinh Dự, nguyên quán ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; sau di đến ở xã Mạo Phố, huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư kiêm Sử quán Tổng tài, Tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục và từng được cử 2 lần đi sứ.
[33] Trần Kỳ (?-?) người xã An Thái, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm.
[34] Phạm Trân (?-?) người xã Đông Phù Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[35] Nguyễn Thông Doãn (?-?) người xã Tăng Quảng, huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh. Có sách ghi ông là Nguyễn Doãn Thông hoặc Nguyễn Doãn Địch.
[36] Nguyễn Úc (?-?) người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại và từng được cử đi sứ.
[37] Phạm Nại (1462-?) người xã Bình Hồ, huyện La Giang (nay thuộc xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan đến chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên.
[38] Vũ Phất (1464-?) người xã An Châu huyện An Dương (nay thuộc quận Hồng Bàng Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo.
[39] Nguyễn Duy Minh (1468-?) người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Tả Thị lang.
[40] Nguyễn Diệu Huy (1464-?) người xã Phí Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quanPhó Đô Ngự sử. Có sách ghi ông là Nguyễn Huy Diệu.
[41] Nguyễn Hanh Phu (1486-?) người xã Nội Duệ, huyện Tiên Du (nay là xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thị lang.
[42] Nguyễn Thù (?-?) người xã Bình Hồ, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Thổ Hoàng (nay cùng huyện). Ông làm quan Tham chính.
[43] Nguyễn Nho Tông (?-?) người xã Vực Đường, huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ.
[44] Nguyễn Tủng Mục (?-?) người xã Hiến Nạp, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang.
[45] Nguyễn Tuyên Cần (1461-1543) người xã Uông Hạ, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình, sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ tước Thận Lộc hầu.
[46] Phạm Chân (1461-?) người xã Kim Lan (sau đổi là Kim Quan) huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ.
[47] Nguyễn Tuân Đạo (?-?) người xã Hộ Xá, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Sau ông đổi sang ngạch quan võ và làm đến chức Tổng binh sứ. Có sách chép là Nguyễn Đạo Tuân.
[48] Đoàn Huệ Nhu (?-?) người xã Phù Vệ, huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thừa chính sứ.
[49] Phạm Thịnh (?-?) người xã Tam Á, huyện Gia Định (nay thuộc xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông là quan đến chức Thượng thư và 2 lần đước cử đi sứ.
[50] Đặng Tán (?-?) người xã Mạo Phổ, huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Hữu Thị lang và được cử đi sứ.
[51] Đỗ Thuần Thông (?-?) người xã Tử Kiều, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Giai Phạm, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.
[52] Nguyễn Trinh Biểu (1453-?) người châu Các Sa, huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Trung Kiên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tham chính.
[53] Hoàng Ngạn Chương (?-?) người xã Mỹ Dương, huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
[54] Phạm Hoà Xuân (1461-?) người xã Xà Cầu, huyện Sơn Minh (nay thuộc xã Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[55] Nguyễn Thận Lễ (?-?) người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Ông là em Nguyễn Tĩnh và Nguyễn Dương Hiến.
[56] Lưu Túc (?-?) người xã Vũ Di, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư.
[57] Vũ Mật (?-?) người xã Tuy Lai, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
[58] Nguyễn Ngung (1469-?) người xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Hiệu thảo, Thượng thư Bộ Lại và được phong tước hầu.
[59] Nguyễn Ích Cữu (1460-?) người huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình, Hà Nội), trú quán huyện Đông Yên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm. Có sách ghi ông là Nguyễn Ích Ngân.
[60] Trình Chí Sâm (?-?) người phường Khúc Phố, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình, Hà Nội), trú quán xã Từ Hồ, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thiếu bảo Chưởng Lục bộ kiêm Đông các Đại học sỹ, tước Từ Hồ bá.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thân Nhân Trung » Hồng Đức thập bát niên Đinh Mùi tiến sĩ đề danh ký