03/07/2022 15:52Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thướng thuỷ khiển hoài
上水遣懷

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 14/03/2014 21:15

 

Nguyên tác

我衰太平時,
身病戎馬後。
蹭蹬多拙為,
安得不皓首。
驅馳四海內,
童稚日餬口。
但遇新少年,
少逢舊親友。
低頭下邑地,
故人知善誘。
後生血氣豪,
舉動見老醜。
窮迫挫曩懷,
常如中風走。
一紀出西蜀,
於今向南斗。
孤舟亂春華,
暮齒依蒲柳。
冥冥九疑葬,
聖者骨已朽。
蹉跎陶唐人,
鞭撻日月久。
中間屈賈輩,
讒毀竟自取。
鬱悒二悲魂,
蕭條猶在否。
崷萃清湘石,
逆行雜林藪。
篙工密逞巧,
氣若酣杯酒。
歌謳互激越,
回斡明受授。
善知應觸類,
各藉穎脫手。
古來經濟才,
何事獨罕有。
蒼蒼眾色晚,
熊掛玄蛇吼。
黃羆在樹顛,
正為群虎守。
羸骸將何適?
履險顏益厚。
庶與達者論,
吞聲混瑕垢。

Phiên âm

Ngã suy thái bình thì,
Thân bệnh nhung mã hậu.
Thặng đặng đa chuyết vi,
An đắc bất hạo thủ.
Khu trì tứ hải nội,
Đồng trĩ nhật hồ khẩu.
Đãn ngộ tân thiếu niên,
Thiểu phùng cựu thân hữu.
Đê đầu há ấp địa,
Cố nhân tri thiện dụ.
Hậu sinh huyết khí hào,
Cử động kiến lão xú.
Cùng bách toả nẵng hoài,
Thường như trung phong tẩu.
Nhất kỷ[1] xuất tây Thục,
Ư kim hướng nam đẩu.
Cô chu loạn xuân hoa,
Mộ xỉ y bồ liễu.
Minh minh cửu nghi táng,
Thánh giả cốt dĩ hủ.
Tha đà Đào Đường[2] nhân,
Tiên thát nhật nguyệt cửu.
Trung gian Khuất, Giả[3] bối,
Sàm huỷ cánh tự thủ.
Uất ấp nhị bi hồn,
Tiêu điều do tại phủ.
Tù tuỵ thanh Tương thạch,
Nghịch hành tạp lâm tẩu.
Cao công mật sính xảo,
Khí nhược hàm bôi tửu.
Ca âu hỗ kích việt,
Hồi oát minh thụ thụ.
Thiện tri ưng xúc loại,
Các tạ dĩnh thoát thủ.
Cổ lai kinh tế tài,
Hà sự độc hãn hữu.
Thương thương chúng sắc vãn,
Hùng quải huyền xà hống.
Hoàng bi tại thụ điên,
Chính vi quần hổ thủ.
Luy hài tương hà thích?
Lý hiểm nhan ích hậu.
Thứ dữ đạt giả luận,
Thôn thanh hỗn hà cấu.

Dịch nghĩa

Tôi đến tuổi già vào lúc nước nhà thái bình,
Bệnh đau khi có loạn lạc.
Nghĩ mình vốn vụng tính,
Cho nên đầu sớm bạc vì vất vả.
Đã từng đi nhiều nơi để kiếm kế sinh nhai,
Hầu nuôi con cái.
Trong quá trình đó tôi gặp nhiều người mới lớn lên,
Còn người quen cùng lứa tuổi mình thì chẳng có mấy.
Vì thế tôi vẫn thường phải cúi đầu nhịn nhục,
Các bạn cũ chắc thông cảm cho tôi điều này.
Người ta trẻ sức vóc hẳn là dai,
Về động tác thấy rõ là già lóng ngóng.
Gặp đường cùng phải bỏ cái từng ôm ấp trong lòng,
Để mặc cho cơn lốc cuốn đi thôi.
Một kỷ cư ngụ trong đất Thục,
Nay thì hướng theo sao đi về miền nam.
Con thuyền cô đơn rung động đám hoa mùa xuân,
Sức già cứ theo đám liễu.
Mờ mịt cao chín từng không,
Các bậc thánh nay xương đã mục hết rồi.
Người đời Nghiêu, Thuấn thấy đâu,
Mà ngày tháng cứ đi vun vút.
Trong quãng đó có Khuất Nguyên với Giả Nghị,
Chịu bị mang tiếng xấu với đời.
Hai hồn bi thương đó bị oan uổng,
Không biết nay có còn tấm tức không.
Đá hai bên bờ sông Tương lởm chởm,
Đi ngược lên qua vùng rừng đước.
Bác lái đò thật là cao tay nghề,
Lòng hăng say như vừa mới nhắp ly men.
Ca hò để cố vượt lên,
Lái thuyền để lách vượt thác.
Thế mới biết rằng, trong các công việc,
Mỗi cái có cái khéo của nó.
Suy rộng việc nước cũng thế,
Đâu phải chỉ trông vào một loại tài.
Rừng chiều sắc xanh xanh,
Thấy có gấu leo cây, rắn đen bò dưới đất.
Beo vàng trên ngọn cây,
Và dưới gốc có bầy hổ ngồi.
Bộ xương tàn này đi về đâu,
Sắc mặt càng thêm phờ phạc.
Biết đem bàn cùng với ai bây giờ,
Thôi thì cứ câm nín cùng với bùn rác vậy.

Bản dịch của Nhượng Tống

Già ngay lúc thái bình
Ốm sau hồi loạn lạc
Lận đận vụng làm ăn
Bảo sao đầu chẳng bạc
Lang thang khắp bốn phương
Nuôi con mong kiếm chác
Nhan nhản lũ trẻ mới
Tuyệt mù bạn thân trước
Nhiều khi phải hạ mình
Người quen may hiểu được
Chia bỉu ta xấu xa
Miệng đời sao quá ác
Bần cùng phụ chí xưa
Điên cuồng chạy lạc chạc
Ở Thục đã mười năm
Sang Sở nay lần bước
Thuyền nhỏ lộn hoa xuân
Sức suy theo liễu rạc
Thánh nhân đã mục xương
Mồ núi trông man mác
Đường, Ngu thấm thoắt qua
Ngày tháng đi như nước
Khuất, Giả chịu thiệt thòi
Hại thay lời bịa tạc
Uất ức nay còn không?
Hai mảnh hồn tan tác
Lởm chởm đá dòng Tương
Giữa rừng theo lối ngược
Lái đò rở tài nghề
Rượu say, vẻ đĩnh đạc
Vang sóng tiếng "hồ khoan"
Lựa thuyền lên khỏi thác
Suy ra trăm việc làm
Phải cậy tay thao lược
Thao lược đã sẵn tài
Việc gì làm cũng khác
Xanh xám sắc rừng chiều
Rắn leo, beo khậm khoạc
Đàn hùm lỗm chỗm ngồi
Ngọn cây gấu đương gác
Đi đâu nắm xương tàn?
Thêm dầy khuôn mặt nạc
Nỗi mình ai thấu cho
Lăn lộn cùng bùn rác
(Năm 769)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Mười hai năm. Thực ra Đỗ Phủ ở Thành Đô quãng 10 năm. Ở đây tính làm tròn.
[2] Tức Đường Nghiêu 唐堯, con của vua Khốc 嚳, họ Y Kỳ 伊祁, tên Phóng Huân 放勛, lúc đầu phong ở đất Đào, sau chuyển tới đất Đường.
[3] Khuất Nguyên và Giả Nghị.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thướng thuỷ khiển hoài