03/12/2021 17:39Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Mỹ Bi tây nam đài
渼陂西南臺

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 02/01/2015 22:25

 

Nguyên tác

高臺面蒼陂,
六月風日冷。
蒹葭離披去,
天水相與永。
懷新目似擊,
接要心已領。
仿像識鮫人,
空蒙辨魚艇。
錯磨終南翠,
顛倒白閣影。
崷崒增光輝,
乘陵惜俄頃。
勞生愧嚴鄭,
外物慕張邴。
世復輕驊騮,
吾甘雜蛙黽。
知歸俗可忽,
取適事莫並。
身退豈待官,
老來苦便靜。
況資菱芡足,
庶結茅茨迥。
從此具扁舟,
彌年逐清景。

Phiên âm

Cao đài diện thương bi,
Lục nguyệt phong nhật lãnh.
Kiêm hà ly phá khứ,
Thiên thuỷ tương dữ vĩnh.
Hoài tân mục tự kích,
Tiếp yêu tâm dĩ lãnh.
Phỏng tượng thức giao nhân,
Không mông biện ngư đĩnh.
Thố ma Chung Nam thuý,
Điên đảo Bạch Các[1] ảnh.
Tô tuất tăng quang huy,
Thừa lăng tích nga khoảnh.
Lao sinh quỹ Nghiêm, Trịnh[2],
Ngoại vật mộ Trương, Bính[3].
Thế phục khinh hoa lưu,
Ngô cam tạp oa mãnh.
Tri quy tục khả hốt,
Thủ thích sự mạc tính.
Thân thoái khởi đãi quan,
Lão lai khổ tiện tĩnh.
Huống tư lăng khiếm túc,
Thứ kết mao tì quýnh.
Tòng thử cụ biển chu,
Di niên trục thanh cảnh.

Dịch nghĩa

Đài cao trông ra bờ xanh,
Ngày tháng sáu gió lạnh.
Bờ lau trông xơ xác,
Trời với nước như xa cách mãi.
Trông cái mới mắt như dính vào,
Nhận cái cốt yếu, lòng như đã thuận.
Theo dáng mà biết được người cá,
Giữa khoảng mờ nhận ra thuyền chài.
Mài bóng là cái xanh của núi Chung Nam,
Lung linh ảnh của Bạch Các.
Ngạo nghễ càng làm tăng vẻ sáng,
Lên gò cao càng tiếc cái khoảnh khắc quá ngắn.
Đời cơ cực thẹn cùng Nghiêm, và Trịnh,
Với bên ngoài thì ái mộ Trương với Bính.
Đời lại coi thường giống ngựa quý,
Ta cam làm thân phận cóc nhái.
Biết về thói có thể xao lãng,
Giữ cái thích của mình, việc chớ không cùng.
Thân đã lui há chờ làm quan,
Già đến khổ vì giữ cái yên lặng.
Huống của cải đủ đồ ăn như củ ấu củ súng,
Lại thêm nhà ở là mái rơm cỏ.
Theo đó sẵn thuyền con,
Quanh năm đi coi cảnh trong sạch.

Bản dịch của Phạm Doanh

Đài cao ngay vũng xanh,
Tháng sáu ngày lạnh giá.
Lau sậy trông xác xơ,
Trời nước mãi cùng gá.
Thấy mới mắt chăm chăm,
Nhận cần lòng vốn đã.
Người cá nhận theo hình,
Ghe chài xa thấy rõ.
Chung Nam phẳng nhẵn xanh,
Bạch Các bóng nghiêng ngả.
Ngạo nghễ càng sáng ngời,
Lên cao hưởng ít quá.
Trịnh, Nghiêm thẹn vào đời,
Trương, Bính khen xuất thế.
Đời coi khinh ngựa nòi,
Ta cam phận cóc cá.
Quay về thói khá nhanh,
Giữ khoái việc chớ vớ.
Thân lui há chờ quan,
Già đến giữ tĩnh khổ.
Huống vốn đủ ấu sen,
Lại đánh nóc rơm cỏ.
Theo đây đủ thuyền con,
Quanh năm ngắm cảnh lạ.
(Năm 754)

[1] Tên một trong ba chỏm núi: Tử Các, Hoàng Các và Bạch Các.
[2] Nghiêm Tuân 嚴遵, hiệu Quân Bình, người đời Hán, sống ở Thành Đô, có tài nhưng lấy nghề bói toán để sinh sống, ông thường treo trăm đồng tiền ở đầu cây gậy; và Trịnh Phác 鄭樸, hiệu tử Chân, người biết lánh đời.
[3] Trương Lương 張良, tự Trọng Uý, người vùng Bình Lăng, cùng với Nguỵ Cảnh Khanh lánh đời; và Bính Mạn Dung 邴曼容, tên Đan, sống cuối đời Tây Hán, người vùng Lang Da.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Mỹ Bi tây nam đài