16/07/2020 21:11Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Sở tư
所思

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 01/03/2014 10:57

 

Nguyên tác

苦憶荊州醉司馬,
謫官樽酒定常開。
九江日落醒何處?
一柱觀頭眠幾回。
可憐懷抱向人盡,
欲問平安無使來。
故憑錦水將雙淚,
好過瞿塘灩預堆。

Phiên âm

Khổ ức Kinh Châu tuý tư mã,
Trích quan tôn tửu định thường khai.
Cửu giang nhật lạc tỉnh hà xứ?
Nhất Trụ quán[1] đầu miên kỷ hồi.
Khả liên hoài bão hướng nhân tận,
Dục vấn bình an vô sứ lai.
Cố bằng cẩm thuỷ tương song lệ,
Hảo quá Cù Đường, Diễm Dự đôi.

Dịch nghĩa

Nhớ vô cùng, quan tư mã Kinh Châu hay say sưa kia,
Bị đổi đến nơi đó chắc vẫn còn nghiêng chai hoài.
Nơi Cửu giang vào lúc cuối ngày, ông say nằm nơi nào,
Tại quán Nhất Trụ mấy lần ngủ rồi?
Thương cho nỗi lòng muốn tỏ hết biết cùng ai,
Muốn hỏi thăm tin tức thì không có người tới.
Vì thế nên nhờ sông Cẩm thuỷ chở hai hàng lệ,
Qua thoát được thác Cù Đường với gò Diễm Dự.

Bản dịch của Nhượng Tống

Bạn rượu châu Kinh nhớ, nhớ ghê
Truất quan, chè chén, chắc li bì
Chín sông bóng xế, nằm đâu đó
Một cột chùa xưa, tỉnh mấy khi?
Uất ức, thương thầm nào kẻ hiểu
Thăm nom muốn nhắn chẳng ai về
Cù Đường, Diễm Dự qua chưa dễ
Nhờ cậy sông đưa hộ lệ đi
(Năm 760)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Tên một di chỉ cổ thuộc huyện Tùng Tư, Hồ Bắc, trong hồ Khâu Gia. Thời Nam triều, nước Tống, Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh 劉義慶 trấn giữ vùng này cho dựng quán (nơi tu hành của đạo sĩ). Quán rất hoành tráng, xây dựng trên một cột, vì thế mang tên này.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Sở tư