05/03/2021 09:07Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Cổ thể thi nhất thủ hoạ Triều Tiên quốc sứ Lý Đẩu Phong ký giản trường thiên
古體詩一首和朝鮮國使李斗峰寄柬長篇

Tác giả: Nguyễn Đăng - 阮登

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi tôn tiền tử vào 31/05/2020 08:51

 

Nguyên tác

青海汪洋翠岱從,
波澄日皜湛穹蔥。
盤桃異種厭芎藭,
萋萋菶菶朝陽桐。
物珍珠貝銀沙銅,
皮革文斑虎豹熊。
千年春蔭鶴龜嵕,
秀鍾精毓全化工。
俊彥挺出科場中,
茞藹人賢國不空。
多聞博覽發心聾,
一代山斗仰鉅公。
高詞健筆策奇功,
燁燁才華蓋世雄。
氣凌長劍倚崆峒,
筆挽文星焰吐紅。
喉舌班聯台座降,
腰佩鏗鏘玉色瓏。
雅詠黃華盛選充,
輕駕征鞍拂柳風。
懸河對語沛無窮,
都得實學得心胸。
吾道相傳無極翁,
雲萍萬里慶來同。
九重乍奏一書封,
使星密接紫微宮。
鵷行獸舞映鵝絨,
五鳳樓前八百鍾。
仰瞻皇極天形容,
萬歲連呼祝岱宗。
喜今千載一奇逢,
三生自覺脫塵蹤。
拜觀熙朝協和衷,
聲明均囿世融融。
詩懷洒落旨怔忡,
家情何必寄書筒。
荏苒初秋客思忽,
斷續閒聞砌傍虫。
一輪明月斡雲蓬,
衡南凝目曉歸鴻。
相憶更深夢亦慵,
天邊望闊海之東。
余聞:
遼堧產出神草叢,
醫國良方脈理通。
勻調仙劑駐春容,
壽涼髮白盎顏童。
旦華堯舜歲喬松,
得朋載酒且相從。
美哉!
得朋載酒可相從。

Phiên âm

Thanh hải uông dương thuý đại tòng,
Ba trừng nhật hạo trạm khung thông.
Bàn Đào dị chủng yếm khung cùng[1],
Thê thê bổng bổng triêu dương đồng.
Vật trân châu bối ngân sa đồng,
Bì cách văn ban hổ báo hùng.
Thiên niên xuân âm hạc quy tông,
Tú chung tinh dục toàn hoá công.
Tuấn ngạn đĩnh xuất khoa trường trung,
Thần ái nhân hiền quốc bất không.
Đa văn bác lãm phát tâm lung,
Nhất đại Sơn Đẩu ngưỡng cự công.
Cao từ kiện bút sách kỳ công,
Diệp diệp tài hoa cái thế hùng.
Khí lăng trường kiếm ỷ không đồng,
Bút vãn văn tinh diễm thổ hồng.
Hầu thiệt ban liên đài toạ hàng,
Yêu bội khanh thương ngọc sắc lung.
Nhã vịnh hoàng hoa thịnh tuyển sung,
Khinh giá chinh yên phất liễu phong.
Huyền hà đối ngữ phái vô cùng,
Đô đắc thực học đắc tâm hung.
Ngô đạo tương truyền vô cực ông,
Vân bình vạn lý khánh lai đồng.
Cửu trùng sạ tấu nhất thư phong,
Sứ tinh mật tiếp Tử Vi[2] cung.
Uyên hành thú vũ ánh nga nhung,
Ngũ Phụng[3] lâu tiền bát bách chung[4].
Ngưỡng chiêm hoàng cực thiên hình dung,
Vạn tuế liên hô chúc Đại Tông[5].
Hỉ kim thiên tải nhất kỳ phùng,
Tam sinh tự giác thoát trần tung.
Bái quan hy triều hiệp hoà trung,
Thanh minh quân hữu thế dung dung.
Thi hoài sái lạc chỉ chinh sung,
Gia tình hà tất ký thư đồng.
Nhẫm nhiễm sơ thu khách tư hốt,
Đoạn tục gian văn thế bạng trùng.
Nhất luân minh nguyệt quản vân bồng,
Hành nam ngưng mục hiểu quy hồng.
Tương ức canh thâm mộng diệc dung,
Thiên biên vọng khoát hải chi đông.
Dư văn:
Liêu[6] nhuyên sản xuất thần thảo tùng,
Y quốc lương phương mạch lý thông.
Quân điệu tiên tễ trú xuân dung,
Thọ lương phát bạch áng nhan đồng.
Đán hoa Nghiêu Thuấn tuế kiều tùng,
Đắc bằng tải tửu thả tương tòng.
Mỹ tai!
Đắc bằng tải tửu khả tương tòng.

Dịch nghĩa

Biển xanh rộng lớn núi biếc hoà theo,
Sóng lặng trời quang sáng đến tận từng cao.
Tiệc Bàn Đào giống lạ hơn cả giống cỏ thuốc khung cùng,
Tươi tốt um tùm như cây ngô đồng hướng về ánh dương.
Các thức vật trân quý như vỏ sò; hạt bạc rải như đồng,
Giáp da vẽ hoa văn hổ báo vẻ oai hùng.
Muôn thủa hơi xuân phủ hình như hạc như rùa,
Trời đất chung đúc tinh tú toàn nhờ công tạo hoá.
Người tài tuấn nổi danh từ trong khoa trường,
Hiền tài như cỏ thì nước nhà chẳng phải là trống rỗng.
Đọc rộng xem nhiều sự phát tiếng từ ở trong lòng,
Là đấng danh nho một đời như Thái Sơn Bắc Đẩu ai cũng hướng về.
Ngôn từ cao, bút lực mạnh, dựng được công nghiệp lớn lao lạ kỳ,
Trói lọi tài hoa anh hùng trùm cái thế.
Khí phách lăng lướt, như trường kiếm dựa vẫy khoảng không rộng,
Bút điểm kéo cả sao băng, sáng vọng toả ánh hồng.
Triều quan trọng yếu ngồi liền ở giáng toà,
Lưng đeo ngọc bội vang tiếng thanh sắc linh lung.
Câu thơ tao nhã vịnh sứ hoàng hoa tuyển sung vào thịnh hội,
Xe nhẹ, yên xa phất phơ gió liễu.
Nói chuyện thao thao, miệng như nước chảy đến vô cùng,
Đều là người thực học tâm đắc ở trong lòng.
Đạo Nho ta được truyền nối, như còn mãi mãi,
Bèo mây tan hợp, muôn dặm gặp gỡ mừng vui như nhau.
Chín tầng bệ báu thư một bức tấu lên,
Sứ giả kìn kìn tiếp về cung Tử Vi.
Quan hàng như chim uyên, như thú múa, ánh lông vũ,
Trước lầu Ngũ Phượng, chuông gióng tám trăm tiếng.
Ngửa trông ngôi hoàng cực giữa trời,
Tiếng hô vạn tuế chúc người thọ như núi Đại Tông.
Mừng được gặp kỳ thịnh hội nghìn năm một thủa,
Ba sinh tự cảm thấy thoát khỏi áng trần lao.
Cùng các quan bái triều thịnh trị trong lòng hoà hiệp,
Thanh minh muôn vật cùng đời vui tươi.
Lòng thơ lai láng bồi hồi lo lắng,
Tình nhà đâu phải gửi nơi ống thư đồng.
Thấm thoát thu qua tình khách tứ chuyển hoài,
Dứt nối tiếng côn trùng nghe lượt này lượt nọ.
Một vầng trăng sáng rạng chuyển dưới mây vần như cỏ bồng,
Người đi về nam còn để mắt trông rõ bóng chim hồng đang về mất.
Thương nhớ canh khuya, sâu trong giấc mộng cũng trễ nhác,
Bên trời biển rộng ngóng về đông.
Ta nghe rằng:
Vùng đất Liêu xa sản sinh lắm loại cỏ thần, mọc thành bụi.
Có thể dùng làm phương thuốc chữa bệnh cho nước, mạch lý thông,
Điều hoà thuốc tiên để giữ được tuổi xuân.
Giúp sống lâu, tóc bạc mà dung nhan đẹp như thanh niên,
Điểm tô đời Nghiêu Thuấn, tuổi sánh cội tùng cao.
Được gặp bằng hữu, có rượu, đến cùng vui với nhau,
Đẹp thay!
Được gặp bằng hữu, có rượu, đến cùng vui với nhau.

Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Đức Toàn (II)

Biển xanh rộng, núi biếc trùng,
Trời quang sóng lặng từng không soi cùng.
Bàn Đào giống lạ cỏ khung,
Um tùm tươi tốt ngô đồng ánh dương.
Vật trân quý, bạc rải đường,
Giáp da hổ báo còn nhường oai phong.
Hơi xuân rùa hạc tuổi đồng,
Đúc chung tinh tú nên công đất trời.
Tài danh nổi tiếng trong đời,
Hiền tài khoa bảng há người hư không.
Hiểu sâu rộng, tự trong lòng,
Thái Sơn Bắc Đẩu nho danh hướng về.
Từ cao, bút lực lạ kỳ,
Tài hoa cái thế cũng vì văn chương.
Khí phách cao, vẫy kiếm trường,
Bút hoa khéo điểm kéo đường sao băng.
Triều quan trọng yếu toạ trông,
Lưng đeo ngọc bội linh lung sắc vàng.
Câu thơ đẹp, sứ hoa hoàng,
Nhẹ yên xe ngựa trên đường liễu đưa.
Thao thao ngọn nước chảy đua,
Là người có học thực tu trong lòng.
Đạo Nho ta nối con dòng,
Bèo mây muôn dặm vui mừng gặp nhau.
Chín tầng bệ báu thư tâu,
Ùn ùn sứ giả về chầu Tử Vi.
Hàng quan chim thú vẻ gì,
Trước lầu Ngũ Phượng, chuông thì tám trăm.
Ngưỡng xem hoàng cực cao thâm,
Tiếng hô vạn tuế muôn năm tuổi trời.
Nghìn năm thịnh hội một thời,
Ba sinh cảm thấy thoát đời trần lao.
Theo quan triều bái đi vào,
Thanh minh muôn vật đẹp sao vui cười.
Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Tình nhà đâu phải gửi nơi thư đồng.
Thu qua thấm thoát tình nồng,
Dứt lòng nghe tiếng côn trùng ngân nga.
Một vầng trăng tỏ sáng loà,
Về nam người có trông qua bóng hồng.
Canh khuya thương nhớ giấc mòng,
Bên trời biển rộng bên đông ngóng về.
Ta từng nghe rằng:
Đất Liêu sinh lắm cỏ thần,
Làm phương chữa bệnh cho dân giúp đời,
Thuốc tiên giữ được tuổi trời.
Sống lâu tóc bạc rạng ngời sức xuân,
Ngày Nghiêu tháng Thuấn điểm phần.
Gặp người thi hữu, rượu tuần cùng vui,
Đẹp thay!
Gặp người thi hữu, rượu tuần cùng vui.
Đây là một trong hai bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, do Nguyễn Đăng làm hoạ thơ sứ thần Triều Tiên là Lý Đẩu Phong, khi ông làm chánh sứ sang tuế cống nhà Minh năm Quý Sửu niên hiệu Hoằng Định thứ 14 (1613).

Nguồn: Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Đức Toàn, “Thơ xướng hoạ của sứ thần Đại Việt - Hoàng giáp Nguyễn Đăng với sứ thần Joseon - Lý Đẩu Phong”, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112), 2012
[1] Tức loại có làm thuốc, còn gọi là xuyên khung.
[2] Cung Tử Vi là cung sao chính trong các sao, còn dùng để chỉ ngôi đế vương, ngôi thiên tử.
[3] Chỉ lầu của nhà vua ngự.
[4] Chưa rõ ý nghĩa. Có thể nói đến bát bách hộc của Nguyên Tái, tể tướng đời Đường Đại Tông, tham lam tích trữ hồ tiêu 800 hộc.
[5] Tên gọi khác của núi Thái Sơn.
[6] Cương giới của Triều Tiên xưa tiếp giáp vùng Liêu Đông.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Đăng » Cổ thể thi nhất thủ hoạ Triều Tiên quốc sứ Lý Đẩu Phong ký giản trường thiên