21/05/2022 04:39Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thu nhật tạp cảm kỳ 2
秋日杂感其二

Tác giả: Trần Tử Long - 陳子龍

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Minh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 26/02/2019 16:21

 

Nguyên tác

行吟坐嘯獨悲秋,
海霧江雲引暮愁。
不信有天常似醉,
最憐無地可埋憂。
荒荒葵井多新鬼,
寂寂瓜田識故侯。
見說五湖供飲馬,
滄浪何處著漁舟。

Phiên âm

Hành ngâm toạ tiếu độc bi thu,
Hải vụ giang vân[1] dẫn mộ sầu.
Bất tín hữu thiên thường tự tuý[2],
Tối lân vô địa khả mai ưu[3].
Hoang hoang quỳ tỉnh[4] đa tân quỷ[5],
Tịch tịch qua điền[6] thức cố hầu.
Kiến thuyết Ngũ Hồ[7] cung ẩm mã,
Thương lang hà xứ trước ngư châu.

Dịch nghĩa

Đi ngâm ngồi huýt sáo riêng buồn thu
Mù biển mây sông đem lại nỗi buồn
Chẳng tin có trời thường tựa như say
Thương nhất là không đất để chôn nỗi buồn
Hoang tàn, quỳ mọc trong giếng nhiều ma mới
lặng lẽ ruộng dưa biết đó là vị hầu tước cũ
Nghe nói Ngũ Hồ làm nơi cho ngựa uống nước
Mênh mông nước biếc đâu là nơi đậu thuyền câu

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Đi ngâm ngồi huýt mỗi buồn thu
Mù biển mây sông dẫn nỗi sầu
Tin chẳng có trời luôn say tít
Buồn vì không đất lấp lo âu
Dưa leo ruộng vắng hầu xưa một
Quỳ mọc giếng hoang quỷ mới nhiều
Nghe nói Ngũ Hồ nay ngựa uống
Nơi nao nước biếc thả thuyền câu
[1] Lúc bấy giờ tác giả có liên hệ với Đường Vương ở Phúc Kiến, Lỗ Vương ở Chiết Giang, nên câu này ám chỉ lực lượng chống Thanh ở ven biển.
[2] Ý câu này là không tin lại có ông trời luôn luôn say để cho người Thanh vào làm chủ Trung Quốc. Điển từ bài Tây kinh phú của Trương Hành thời Xuân Thu: “Tần Mục Công mơ chầu thiên đế, đế say đem mảnh đất đầu chim cút cho Tần”. Bài Hàm Dương của Lý Thường Ẩn có câu: “Tự thị đương thời thiên đế tuý, Bất quan Tần đế hữu sơn hà” (Lúc bấy giờ thiên đế say, không liên quan gì đến vua Tần có sông núi).
[3] Vùi lấp lo âu. Bài Thuật chí của Trọng Trường Thống đời Hán có câu “Ký sầu thiên thượng, Mai ưu địa hà” (Gửi nỗi buồn lên trời, Chôn nỗi lo xuống đất). Ý là đất nước đã về tay nhà Thanh, không còn đất để chôn nỗi buồn.
[4] Thơ Thập ngũ tòng quân chinh đời Hán có câu: “Tỉnh thượng sinh lữ quỳ”, ý là quê hương đã hoang tàn, rau quỳ dại mọc ở bên giếng.
[5] Đây là tác giả nghĩ đến vong hồn bạn bè đã hy sinh trong cuộc chiến chống Thanh.
[6] Sau khi nhà Tần mất. Đông Lăng hầu cũ là Thiệu Bình ẩn cư ở thành Trường An, sống bằng nghề trồng dưa.
[7] Chỉ chung lưu vực Thái Hồ đã bị quân Thanh chiếm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trần Tử Long » Thu nhật tạp cảm kỳ 2