27/07/2021 14:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ “Kiếm khí” hành
觀公孫大娘弟子舞劍器行

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 27/10/2005 12:45

 

Nguyên tác

昔有佳人公孫氏,
一舞劍器動四方。
觀者如山色沮喪,
天地為之久低昂。
霍如羿射九日落,
矯如群帝驂龍翔。
來如雷霆收震怒,
罷如江海凝清光。
絳脣珠袖兩寂寞,
晚有弟子傳芬芳。
臨穎美人在白帝,
妙舞此曲神揚揚。
與餘問答既有以,
感時撫事增惋傷。
先帝侍女八千人,
公孫劍器初第一。
五十年間似返掌,
風塵鴻洞昏王室。
梨園子弟散如煙,
女樂餘姿映寒日。
金粟堆前木已拱,
瞿塘石城草蕭瑟。
玳弦急管曲復終,
樂极哀來月東出。
老夫不知其所往,
足茧荒山轉愁疾。

Phiên âm

Tích hữu giai nhân Công Tôn thị
Nhất vũ kiếm khí động tứ phương.
Quan giả như sơn sắc trở táng,
Thiên địa vi chi cửu đê ngang.
Quắc như Nghệ xạ cửu nhật lạc,
Kiểu như quần đế tham long tường.
Lai như lôi đình thu chấn nộ,
Bãi như giang hải ngưng thanh quang.
Giáng thần châu tự lưỡng tịch mịch,
Vãn hữu đệ tử truyền phân phương.
Lâm Dĩnh mĩ nhân tại Bạch Đế,
Diệu vũ thử khúc thần dương dương.
Dữ dư vấn đáp ký hữu dĩ,
Cảm thì phủ sự tằng uyển thương.
Tiên đế thị nữ bát thiên nhân,
Công Tôn kiếm khí sơ đệ nhất.
Ngũ thập niên gian tự phản chưởng,
Phong trần hồng động hôn vương thất.
Lê viên đệ tử tán như yên,
Nữ nhạc dư tư ánh hàn nhật.
Kim Túc[1] đôi tiền mộc dĩ củng,
Cù Đường thạch thành thảo tiêu sắt.
Đại diên cấp quản khúc phục chung,
Lạc cực ai lai nguyệt đông xuất.
Lão phu bất tri kỳ sở vãng,
Túc kiển hoang sơn chuyển sầu tật.

Dịch nghĩa

Xưa có người đẹp họ Công Tôn,
Mỗi lần múa điệu kiếm khí, bốn phương rung động.
Người xem vững như núi cũng khiếp đảm.
Trời đất theo nhịp múa mà lên cao xuống thấp.
Sáng rực như Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời,
Vững vàng như các chúa tiên cỡi rồng lượn.
Đến khi sấm sét thu hết cơn giận dữ,
Dừng như sông bể đọng ánh sáng trong veo.
Làm môi thắm, tay áo ngọc nay đã vắng tênh,
Về già có cô học trò để truyền nghề.
Ấy là người đẹp xứ Lâm Dĩnh ở thành Bạch Đế.
Múa khúc tuyệt diệu này, thần thái hiên ngang.
Cùng ta trò chuyện trong chốc lát,
Cảm thời thế nhiều ngang trái mà xót thương!
Thị nữ của tiên đế có tám nghìn người,
Kiếm khí của Công Tôn đứng hàng đầu.
Khoảng năm chục năm trôi qua tựa như trở bàn tay,
Gió bụi tơi bời tối tăm cả cung vua.
Đệ tử Lê viên tan tác như khói,
Phong tư đội nữ nhạc chỉ còn ánh nắng lạnh lẽo.
Trước gò Kim Túc, côi cối chầu hầu,
Nơi thành đá Cù Đường, cỏ xác xơ buồn bã.
Trên tiệc, khúc sáo dồn dập đã dứt
Vui xong sinh buồn, trăng mọc trời đông.
Già này chẳng biết sẽ đi về đâu,
Chân chai lê trong núi hoang theo nỗi sầu.

Bản dịch của Bất Giới @Mai Hoa Trang

Xưa người đẹp Công Tôn múa kiếm
Khí tung hoành rung chuyển bốn phương.
Người xem khiếp đảm lạ thường
Điệu cao nhịp thấp tựa nương đất trời.
Rực như Nghệ bắn rơi chín quạ
Vững như rồng tiên chúa cưỡi chơi.
Tan cơn giận dữ thiên lôi
Dừng như bể đọng ánh ngời sông trong.
Lúc tuổi già buồn không vắng vẻ
Cô học trò học nghệ xứ Lâm.
Vốn thành Bạch Đế mỹ nhân
Đường gươm diệu tuyệt thái thần hiên ngang.
Trong chốc lát cùng nàng chuyện rỗi
Cảm thế thời lắm nỗi trái ngang.
Thị nữ tiên đế tám ngàn
Công Tôn kiếm khí đứng hàng nhất lưu.
Năm chục năm bóng câu qua cửa
Chốn thâm cung khói lửa miên man.
Lê viên đệ tử khói tan
Phong tư nữ nhạc chút hàn nắng rơi.
Gò Kim Túc cây ngồi chầu mãi
Chốn Cù Đường cỏ lại buồn hơn.
Tiệc cao đã dứt sáo dồn
Trời đông trăng mọc vui buồn qua mau.
Thân già biết sẽ về đâu ?
Chân chai lê gót gieo sầu núi hoang...
(Năm 767)

Lời tự: “Đại Lịch nhị niên thập nguyệt, thập cửu nhật, Quỳ phủ biệt giá Nguyên Trì trạch, kiến Lâm Dĩnh Lý thập nhị nương vũ ‘Kiếm khí’, trang kỳ uý khí, vấn kỳ sở sư? Viết: ‘Dư Công Tôn đại nương đệ tử dã!’ Khai Nguyên tam tải, dư thượng đồng trĩ, ký ư Yển Thành, quan Công Tôn thị vũ kiếm khí, hồn thoát, lưu ly, đốn toả, độc xuất quán thời. Tự cao đầu Nghi Xuân, Lê Viên nhị kỹ phường nội nhân, kịp ngoại cung phụng, hiểu thị vũ giả, Thánh Văn Thần Vũ hoàng đế sơ, Công Tôn nhất nhân nhi dĩ. Ngọc mạo cẩm y, huống dư bạch thủ. Kim tư đệ tử, diệc phỉ thịnh nhan. Ký biện kỳ do lai, tri ba lan mạc nhị, phủ sự khảng khái, liêu vi ‘Kiếm khí hành’. Tích giả Ngô nhân, Trương Húc, thiện thảo thư thiếp, số thường ư Nghiệp huyện, quan Công Tôn đại nương vũ ‘Tây hà kiếm khí’, tự thử thảo thư trường tiến, hào đãng, cảm kích, tức Công Tôn khả tri hĩ!” 大曆二年十月十九日夔府別駕元持宅,見臨穎李十二娘舞劍器,壯其蔚跂。問其所師。曰:余公孫大娘弟子也。開元三載,余尚童穉,記於郾城,觀公孫氏舞劍器渾脫瀏漓,頓挫,獨出冠時。自高頭宜春梨園二伎内人洎外供奉曉是舞者。聖文神武皇帝初,公孫一人而已。玉貌錦衣況余白首。今兹弟子亦匪盛顏旣辨其由來,知波瀾莫二。撫事慷慨,聊為劍器行。昔者吳人張旭,善草書帖,數常於鄴縣觀公孫大娘舞西河劍器,自此草書長進,豪蕩感激,卽公孫可知矣。 (Ngày 19 tháng 10 năm Đại Lịch thứ 2, ở nhà Nguyên Trì, giữ chức biệt giá tại Quỳ châu, tôi được coi nàng họ Lý, gốc người Lâm Dĩnh múa điệu “Kiếm khí”, phục dáng điệu lanh lẹ của nàng, mới hỏi nàng học múa từ ai? Nàng đáp: “Tôi là học trò của cô cả Công Tôn”. Năm Khai Nguyên thứ 3, tôi còn nhỏ, khi ở Yển Thành có được coi cô cả Công Tôn múa điệu “Kiếm khí”, “Vụt đỏ”, nhanh nhẹ, nhịp nhàng, thời đó nổi tiếng. Những người đứng đầu trong hai đoàn Nghi Xuân và Lê Viên cho đến các vũ nữ phục vụ nhà vua bên ngoài, diễn đạt được lối múa này, trong những năm đầu của đời đức Thánh Văn Thần Võ hoàng đế, chỉ có cô cả Công Tôn mà thôi. Mặt ngọc, áo hoa, tôi nay tủi cho mình đầu bạc. Ngay cả người học trò này cũng không còn trẻ nữa. Đã biết rõ gốc tích nàng, lại thêm coi điệu múa không có khác xưa, nhân đó cảm khái mà làm ra bài hành này. Xưa người đất Ngô là Trương Húc, vốn giỏi về lối viết thảo, có lần ở huyện Nghiệp, được coi cô cả Công Tôn múa “Kiếm khí tây hà”. Từ đó ông hoàn mỹ thêm lối viết thảo của ông. Coi đó đủ thấy tài của cô cả Công Tôn là như thế nào.)

[1] Nơi chôn Đường Minh Hoàng, thuộc Thiểm Tây.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ “Kiếm khí” hành