03/07/2022 15:49Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tự thuật

Tác giả: Nguyễn Quý Tân - 阮貴新

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/09/2014 19:17

 

Tài sắc nhỉ, quan Đĩnh Trai[1], Thượng Cốc[2],
Tuổi thanh niên mà tai mắt thần đồng.
Học lầu thông thi, hoạ, cầm, cung,
Thú trải khắp phong, hoa, tuyết, nguyệt.
Duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt[3],
Kho trời chung mà vô tận của mình riêng[4].
Câu thơ thần, chén rượu thánh, khúc ca tiên,
Kiều nhi[5] dăm bẩy đứa, đồng tử[6] bốn năm tên.
Lẽo đẽo đôi con ngựa, le te một chiếc thuyền,
Khi thành thị, lúc lâm tuyền.
Phong lưu này quen thói tự nhiên,
Tiếng thảng thích đã lừng miền Đông Quận[7].
Đã sinh ra ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.[8]
Hội long vân[9] quyết chí vẫy vùng,
Bút một trận bảng rồng[10] treo chói lọi.
Chữ phận bạc má hồng khôn tránh khỏi,
Mà phong lưu cho bõ lúc phong trần.
Cũng tưởng rằng danh chẳng bằng thân,
Xăm xăm những rắp gần nơi tư đệ[11].
Ra thảo lý[12] cân đai nhè nhẹ,
Khúc nga tùng[13] ngâm khẽ thong dong.
Gan anh hùng mà cốt tiên ông,
Khúc cầm, khúc nhạc nam đông bắc đoài.
Khôn ngoan nhất mực làm trai.
Nguồn:
1. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962
2. Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến xuất bản, Hà Nội, 1953
[1] Tên hiệu của tác giả.
[2] Tên làng thuộc huyện Gia Lộc, Hải Dương.
[3] Chữ Hán: 惟江上之清風,與山間之明月. Nghĩa: Chỉ có gió mát ở trên sông và trăng trong ở sườn núi là đáng kể. Lấy từ bài Tiền Xích Bích phú của Tô Đông Pha.
[4] Lấy từ bài của Cao Bá Quát.
[5] Con hát.
[6] Trẻ nhỏ theo hầu.
[7] Tức Hải Dương, tục gọi là tỉnh Đông.
[8] Lấy từ bài của Nguyễn Công Trứ.
[9] Ý nói khi hiển đạt.
[10] Đỗ tiến sĩ.
[11] Nhà riêng.
[12] Thảo là cỏ, lý là làng. Chỉ nơi thôn dã.
[13] Hàn Dũ làm huyện thừa ở Sơn Dương, cả ngày ngâm nga dưới gốc tùng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Quý Tân » Tự thuật