25/09/2021 19:37Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Biệt Trương thập tam Kiến Phong
別張十三建封

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 12/03/2015 00:59

 

Nguyên tác

嘗讀唐實錄,
國家草昧初。
劉裴建首義,
龍見尚躊躇。
秦王撥亂姿,
一劍總兵符。
汾晉為豐沛,
暴隋竟滌除。
宗臣則廟食,
後祀何疏蕪。
彭城英雄種,
宜膺將相圖。
爾惟外曾孫,
倜儻汗血駒。
眼中萬少年,
用意盡崎嶇。
相逢長沙亭,
乍問緒業餘。
乃吾故人子,
童丱聯居諸。
揮手灑衰淚,
仰看八尺軀。
內外名家流,
風神蕩江湖。
范雲堪晚友,
嵇紹自不孤。
擇材征南幕,
湖落回鯨魚。
載感賈生慟,
復聞樂毅書。
主憂急盜賊,
師老荒京都。
舊丘豈稅駕,
大廈傾宜扶。
君臣各有分,
管葛本時須。
雖當霰雪嚴,
未覺栝柏枯。
高義在雲臺,
嘶鳴望天衢。
羽人掃碧海,
功業竟何如。

Phiên âm

Thường độc Đường thực lục,
Quốc gia thảo muội sơ.
Lưu[1], Bùi[2] kiến thủ nghĩa,
Long kiến thượng trù trừ.
Tần vương bát loạn tư,
Nhất kiếm tổng binh phù.
Phần[3] Tấn vi phong bái,
Bạo Tuỳ cánh địch trừ.
Tông thần tắc miếu thực,
Hậu tự hà hoang vu.
Bành Thành anh hùng chủng,
Nghi ưng tương tướng đồ.
Nhữ duy ngoại tằng tôn,
Thích thảng hãn huyết câu.
Nhãn trung vạn thiếu niên,
Dụng ý tận khi khu.
Tương phùng Trường Sa đình,
Sạ vấn thự nghiệp dư.
Nãi ngộ cố nhân tử,
Đồng quán liên cư chư[4].
Huy thủ sái suy lệ,
Ngưỡng khan bát xích khu.
Nội ngoại danh gia lưu,
Phong thần đãng giang hồ.
Phạm Vân[5] kham vãn hữu,
Kê Thiệu[6] tự bất cô.
Trạch tài chinh nam mạc[7],
Hồ lạc hồi kình ngư.
Tải cảm Giả Sinh[8] đỗng,
Phục văn Nhạc Nghị[9] thư.
Chủ ưu cấp đạo tặc,
Sư lão hoang kinh đô.
Cưu khâu khởi thuế giá,
Đại hạ khuynh nghi phù.
Quân thần các hữu phận,
Quản[10], Cát[11] bản thì tu.
Tuy đương tản tuyết nghiêm,
Vị giác quát bá khô.
Cao nghĩa tại vân đài,
Tê minh vọng thiên cù.
Vũ nhân tảo bích hải,
Công nghiệp cánh hà như.

Dịch nghĩa

Tôi thường đọc quyển ghi chép việc thực sảy ra vào đời Đường,
Vào thuở ban đầu còn chưa ổn định.
Lưu Văn Tĩnh, Bùi Tịch đứng đầu đề xướng việc khởi nghĩa,
Rồng hiện ra nhưng còn lưỡng lự.
Tài dẹp loạn của vua Tần,
Một thanh gươm mà nắm hết các mệnh lệnh quân đội.
Sông Phần ở đất Tấn làm quê hương của nhà vua,
Nhà Tuỳ tàn bạo cũng bị diệt trừ.
Bầy tôi có công tất được thờ nơi miếu,
Các ngày cúng sau sao mà tẻ nhạt.
Bành Thành là nơi xuất anh hùng,
Thích hợp cho vai trò đảm đương việc lớn.
Anh chỉ là chắt ngoại,
Mà cũng tỏ ra là con ngựa non giống mồ hôi máu,
Trong con mắt của vạn đứa trẻ,
Mà tỏ ra kiên gan theo đuổi ý chí của mình.
Gặp nhau ở một cái đình nơi Trường Sa,
Vội hỏi làm ăn ra sao.
Là con của người quen cũ,
Hồi nhỏ ở cạnh nhà nhau.
Đưa tay lau nước mắt,
Ngẩng mặt nhìn tấm thân cao tám thước.
Bên nội lẫn bên ngoại đều có tiếng tăm,
Tinh thần thảnh thơi đi chơi các sông hồ.
Phạm Vân cố chịu đến già mới có bạn,
Bản thân Kê Thiệu không phải là sống cô đơn.
Chọn người có tài để xuống quân khu miền nam,
Con cá kình lại trở về nơi hồ.
Từng cảm động vì tiếng khóc của Giả Sinh,
Lại nghe nói về kiến nghị của Nhạc Nghị.
Chủ đang lo vì giặc giã tấn công tới tấp,
Quân đội tán loạn xa nơi kinh đô hoang tàn.
Làng cũ há bỏ mặc,
Nhà lớn nghiêng cần chống đỡ.
Vua tôi đều có phận riêng,
Lúc nào cũng nên theo Quản Trọng với Gia Cát Lượng.
Tuy đang lúc tuyết rơi nhiều,
Nhưng chưa cảm thấy cây bách cây quát khô héo.
Các người có nghĩa được nêu tên ở đài mây,
Hí vang mà ngóng về kinh đô.
Các vị đạo sĩ đã quét sạch biển biếc kia,
Thì công nghiệp họ phải được coi như thế nào.

Bản dịch của Phạm Doanh

Chuyện đời Đường hay đọc,
Lúc nước mới ra đời.
Lưu, Bùi đã giữ nghĩa,
Rồng hiện chưa đúng thời.
Vua Tần yên được loạn,
Một kiếm nắm cơ ngơi.
Phần Tấn thành đất tổ,
Nước Tuỳ bị diệt thôi.
Công thần thờ trong miếu,
Lễ lạc sao bỏ lơi.
Bành Thành sinh kẻ dũng,
Việc lớn ắt vừa vai.
Anh tuy là chắt ngoại,
Đã tỏ đúng giống nòi.
Trong mắt vạn người trẻ,
Ý chí theo đến nơi.
Đình Trường Sa gặp gỡ,
Vội hỏi đến cuộc đời.
Nay gặp con người cũ,
Nhà gần, trẻ cùng chơi.
Đưa tay gạt nước mắt,
Thân tám thước ngắm coi.
Gia thế nội ngoại nổi,
Lòng cứ gắn sông ngòi.
Phạm Vân già gặp bạn,
Kê Thiệu nào lẻ loi.
Được chọn về nam giúp,
Cá kình hồ lại bơi.
Vẫn cảm Giả Sinh khóc,
Lại nghe Nhạc Nghị lời.
Vua lo giặc tới tấp,
Quân chạy khỏi kinh rồi.
Làng cũ há bỏ mặc,
Nhà lớn lở cần bồi.
Các quan người mỗi phận,
Gương Quản, Cát cố noi.
Tuy lúc sương gió mạnh,
Thông bách chưa thấy còi.
Đài mây nêu nghĩa lớn,
Hý vang tận khung trời.
Người tiên quét biển biếc,
Công lao sao xét soi.
(Năm 769)

[1] Lưu Văn Tĩnh 劉文靜.
[2] Bùi Tịch 裴寂.
[3] Sông bắt nguồn từ tây nam núi Quản Sầm, huyện Ninh Vũ, Sơn Tây, chảy qua huyện Vinh Hà rồi đổ vào sông Hoàng Hà.
[4] Trương Kiến Phong là người Duyện Châu, con Trương Giới 張玠. Hồi trẻ ông rất hào hiệp. Tướng của An Lộc Sơn là Lý Đình Vĩ 李庭偉 nhũng nhiễu làng xóm, ông lãnh đạo dân binh trong làng đánh giết. Quan thái thú Hàn Trạch Mộc 韓擇木 mới sai sứ tâu lên vua, Trương Giới đi khắp vùng Giang Nam, chẳng hề báo công. Thân sinh Đỗ Phủ khi giữ chức tư mã Duyện Châu, lúc đó Đỗ Phủ ở với cha, nên quen biết Trương Giới.
[5] Phạm Vân (451-503) tự Nhan Long 彥龍, người nước Tề, Lương thời Nam triều. Tổ tiên xưa cư ngụ vùng Nam Hương, Vũ Dương (nay là Bí Duơng, Hà Nam). Những năm đầu phục vụ dưới trướng Cánh Lăng vương Tiêu Tử Lương 竟陵王蕭子良, là một trong Cánh Lăng bát hữu (tám người bạn của Cánh Lăng vương).
[6] Kê Thiệu (253-304), con của Kê Khang 嵇康 đời Tấn, từng theo bảo vệ Hán Vũ Đế, máu ướt cả áo vua, sau đó mới chết. Vua cảm kích, giữ tấm áo đó không giặt.
[7] Năm đầu Đại Lịch (766), Đạo Châu chế sứ là Bùi Cầu 裴虯 tiến cử Trương Kiến Phong với viên quan sát sứ Vi Chi Tấn 韋之晉 để đưa vào ban tham mưu, không ưa công việc nên bỏ đi.
[8] Giả Nghị 賈誼, người Lạc Dương đời Hán, có tài văn học và lập thuyết chính trị. Hán Văn Đế phong làm bác sĩ, sau vua nghe lời dèm pha, đổi ông xuống Trường Sa làm thái phó.
[9] Một tướng tài của nước Yên thời Chiến Quốc, dâng thư lên Yên Chiêu Vương kế hợp tung, liên kết với Triệu, Sở, Nguỵ, Hàn để chống lại nước lớn là Tề. Ông lãnh đạo lực lượng năm nước và chiếm hơn bảy chục thành của nước Tề, được Yên Chiêu Vương phong Xương quốc quân 昌國君. Chiêu Vương qua đời, Huệ Vương không dùng ông nữa, nên ông bỏ sang nước Triệu, được phong là Vọng chư quân 望諸君.
[10] Quản Trọng 管仲, tự của Quản Di Ngô 管夷吾 (? - 644 tr.CN), người Dĩnh Thượng nước Tề thời Chiến Quốc. Trước phục vụ công tử Củ sau làm tướng cho Tề Tuyên Công 齊桓公. Có tài về kinh tế thương mại với nhiều sáng kiến, làm cho dân giàu nước mạnh, Tuyên Công coi như cha, gọi là Trọng Phụ 仲父. Là người tiên phong trong phái pháp gia.
[11] Gia Cát Lượng 諸葛亮 (181-234), tự Khổng Minh 孔明, người Dương Đô, quận Lang Gia (nay là huyện Nghi Thuỷ, Sơn Đông). Tị nạn về Kinh Châu, được Lưu Bị ba lần tới nhà tranh cầu cứu mới ra giúp. Là người lắm mưu nhiều kế, giúp Lưu Bị khôi phục cơ đồ nhà Thục Hán. Khi Lưu Bị qua đời, hết lòng giúp Hậu chủ là Lưu Thiện 劉禪, được phong tước Vũ hương hầu 武鄉侯.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Biệt Trương thập tam Kiến Phong