23/06/2021 12:17Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nhạn thanh
雁聲

Tác giả: Thái Thuận - 蔡順

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi hongha83 vào 14/11/2011 01:12

 

Nguyên tác

起恨驚愁四散飛,
歌臺底事到來稀。
角殘始咯天涯去,
鐘定還聞北塞歸。
孤戍向回秋杳杳,
長門望斷夜依依。
不知客淚能多少,
又向潇湘送落暉。

Phiên âm

Khởi hận kinh sầu tứ tán phi,
Ca đài để sự đáo lai hy.
Giốc tàn thuỷ lạc thiên nhai khứ,
Chung định hoàn văn bắc tái quy.
Cô thú hướng hồi thu diểu diểu,
Trường môn vọng đoạn dạ y y.
Bất tri khách lệ năng đa thiểu,
Hựu hướng Tiêu Tương[1] tống lạc huy.

Dịch nghĩa

Tiếng hận sầu nổi lên ghê rợn bay toả ra bốn phía,
Sao mà lời ca ở trên toà lâu đài đến thưa thớt thế?
Hồi tù và tàn lụi, mới thấy (tiếng nhạn) rơi xuống chân trời,
Tiếng chuông đã yên lặng vẫn nghe thấy (tiếng nhạn) từ ải bắc bay về.
Người lính thú cô đơn hướng về trời thu man mác,
Tựa cửa buông tầm mắt trông xa mờ khuất trong đêm bịn rịn.
Chẳng biết giọt lệ của khách tha hương có bao nhiêu,
Mà rồi quay về sông Tiêu Tương tiễn đưa bóng xế.

Bản dịch của Bùi Duy Tân, Đào Phương Bình

Hận sầu trỗi dậy toả nơi nơi,
Lầu hát sao mà đến ít thôi?
Chuông lặng còn nghe về ải bắc,
Còi tan vừa rụng xuống chân trời.
Thu man mác kẻ lưu đồn nhớ,
Đêm ngẩn ngơ người tựa cửa coi.
Giọt lệ tha hương nào xiết kể,
Tiêu Tương lại tiễn bóng chiều xuôi.
Ý thơ câu 1 và câu 2 nói: Tiếng nhạn mang nỗi sầu vang lên át cả tiếng ca hát của toà lâu đài. Tại sao tình cảm thơ mà lai láng đến thế? Đây là nỗi nhớ mong của người thân trong gia đình họ đối với người chồng, người con đi xa (đọc câu 6 và 7).

Nguồn: Sái Thuận - nhà thơ lớn đất cổ Kinh Bắc, Ty văn hoá và thông tin Hà Bắc, 1978
[1] Tên sông ở Hồ Nam, Hồ Bắc của nước Trung Quốc. Trên mình Tiêu Tương ghi dấu sầu hận của Nga Hoàng, Nữ Anh và của Khuất Nguyên, cho nên mỗi khi nghe tiếng nhạn lại động lòng xúc cảm thiết tha, nhất là lúc chiều hôm bóng xế thì không sao cầm được nước mắt.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thái Thuận » Nhạn thanh