27/11/2020 10:41Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lưỡng Đương huyện Ngô thập thị ngự giang thượng trạch
兩當縣吳十侍禦江上宅

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/02/2015 09:50

 

Nguyên tác

寒城朝煙澹,
山谷落葉赤。
陰風千里來,
吹汝江上宅。
鶤雞號枉渚,
日色傍阡陌。
借問持斧翁,
幾年長沙客。
哀哀失木狖,
矯矯避弓翮。
亦知故鄉樂,
未敢思夙昔。
昔在鳳翔都,
共通金閨籍。
天子猶蒙塵,
東郊暗長戟。
兵家忌間諜,
此輩常接跡。
臺中領舉劾,
君必慎剖析。
不忍殺無辜,
所以分白黑。
上官權許與,
失意見遷斥。
仲尼甘旅人,
向子識損益。
朝廷非不知,
閉口休歎息。
余時忝諍臣,
丹陛實咫尺。
相看受狼狽,
至死難塞責。
行邁心多違,
出門無與適。
於公負明義,
惆悵頭更白。

Phiên âm

Hàn thành triêu yên đạm,
Sơn cốc lạc diệp xích.
Âm phong thiên lý lai,
Xuy nhữ giang thượng trạch.
Cô kê hào uổng chử,
Nhật sắc bạng thiên mạch.
Tá vấn trì phủ ông,
Kỷ niên Trường Sa khách.
Ai ai thất mộc dứu,
Kiểu kiểu tị cung cách.
Diệc tri cố hương lạc,
Vị cảm tư túc tích.
Tích tại Phụng Tường đô,
Cộng thông kim khuê tịch.
Thiên tử do mông trần,
Đông giao ám trường kích.
Binh gia kỵ gián điệp,
Thử bối thường tiếp tích.
Đài trung lĩnh cử hặc,
Quân tất thận phẫu tích.
Bất nhẫn sát vô cô,
Sở dĩ phân bạch hắc.
Thượng quan quyền hứa dữ,
Thất ý kiến thiên xích[1].
Trọng Ni[2] cam lữ nhân,
Hướng Tử[3] thức tổn ích.
Triều đình phi bất tri,
Bế khẩu hưu thán tức.
Dư thì thiểm tránh thần,
Đan bệ[4] thực chỉ xích.
Tương khan thụ lang bái,
Chí tử nan tắc trách.
Hành mại tâm đa vi,
Xuất môn vô dữ thích.
Ư công phụ minh nghĩa,
Trù trướng đầu cánh bạch.

Dịch nghĩa

Thành lạnh khói chiều nhạt,
Lá đỏ rụng nơi hang núi.
Gió lạnh từ vạn dặm tới,
Thổi vào nhà trên sông của ông.
Chim phượng hoàng kêu nơi bãi sông cong,
Ánh trời rớt trên đường quê.
Thử hỏi ông vác rìu kia,
Đã ở nơi Trường Sa bao năm rồi.
Con vượn bị mất chỗ ở kêu buồn,
Rần rần chạy trốn cung tên.
Cũng biết cái vui của làng cũ,
Chưa dám nghĩ chuyện đêm trước.
Trước kia ở quận Phụng Tường,
Cùng có tên trong danh sách các quan phục vụ.
Nhà vua còn gặp lao đao,
Miền đông dáo dài còn đe doạ.
Việc quân lo đề phòng gián điệp,
Cái bọn này thường dò la tung tích.
Trong viện ông lãnh nhiệm vụ hạch tội,
Tất nhiên ông rất thận trọng trong việc phân tích.
Không nỡ giết kẻ vô tội,
Cốt là làm rõ trắng đen.
Quan trên có thừa quyền hành,
Trái ý là bị gạt bỏ.
Trọng Ni cam làm kẻ lang thang,
Hướng tử hiểu được cái lẽ của đầy vơi.
Triều đình không phải là không biết,
Ngậm miệng thôi than vãn.
Lúc đó tôi là vị quan nhỏ giữ việc can ngăn vua,
Tuy cách thềm đỏ chỉ trong tấc thước.
Thấy như thế phải trông cậy vào nhau,
Dù cho chết cũng khó mà đẩy lui trách nhiệm.
Ở lại làm thì lòng đầy bức xúc,
Bỏ ra ngoài không biết đi đâu.
Đối với ông giữ cái nghĩa trong sáng,
Rầu rĩ đầu hoá bạc mất.

Bản dịch của Phạm Doanh

Thành lạnh nhạt khói chiều,
Lá đỏ rơi hang núi.
Gió buồn ngàn dặm về,
Nhà trên sông, cứ thổi.
Chim công kêu bến cong,
Sắc chiều chiếu trên lối.
Thử hỏi ông vác rìu,
Trường Sa bao năm gửi.
Vượn lạc ra rả kêu,
Tránh cung rần rần lủi.
Làng cũ biết cái vui,
Chuyện qua chưa nghĩ tới.
Trước kia ở Phụng Tường,
Cùng chung hàng quan lại.
Nhà vua còn long đong,
Miền đông giặc vẫn nổi.
Việc quân phòng kẻ gian,
Bọn này thường kiếm mối.
Ông phân tích rạch ròi,
Trong viện lo xét tội.
Không nỡ hại người ngay,
Cốt làm rõ sáng tối.
Quan trên đầy uy quyền,
Trái ý là đòi đổi.
Hướng Tử hiểu đầy vơi,
Trọng Ni đành lặn lội.
Triều đình vốn biết thừa,
Than thở ngậm chẳng nói.
Lúc đó tôi chức quèn,
Bệ vua chầu gần gụi.
Thấy vậy đành nương nhau,
Tới chết khó từ chối.
Giữ kín thấy đau lòng,
Lộ ra, lại bối rối.
Nơi ông, nghĩa sáng ngời,
Đầu bạc vì buồn tủi.
(Năm 759)

Sông Lưỡng Đương bắt nguồn từ núi Đại Tán. Huyện mang tên con sông chảy ngang tại Bảo Kê, Thiểm Tây, là điểm trọng yếu giao thông giữa Thục và Tần. Còn có tên là Tán Quan, Hao Cốc.

[1] Ngô Úc vì có ý kiến trong việc can gián mà bị đày đi nơi khác.
[2] Khổng Tử, can gián vua không được, bèn bỏ đi sang nước khác.
[3] Hướng Trường, tự Tử Bình, người đời Đông Hán, ở ẩn không ra làm quan.
[4] Chỗ vua ngồi khi thiết triều.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Lưỡng Đương huyện Ngô thập thị ngự giang thượng trạch