31/01/2023 11:58Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Xuân sầu thi hiệu Ngọc Xuyên Tử
春愁詩效玉川子

Tác giả: Tiết Quý Tuyên - 薛季宣

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi tôn tiền tử vào 11/10/2018 20:54

 

Nguyên tác

春陰苦無賴,
巧解窮雕鎪。
入我方寸間,
釀成一百萬斛傷春愁。
我欲挹此愁,
寸田無地安愁芻。
沃以一石五斗杜康酒,
醉心還與愁為謀。
愁腸九轉疾車轂,
擾擾萬緒何綢繆。
愁思儻可織,
爭奈百結不可紬。
我與愁作惡,
走上千尺高樓。
千尺溯雲漢,
只見四极愁雲浮。
都不見銅盤之日,
缺月之鉤。
此心莫與明,
愁來壓人頭。
逃刑入冥室,
關閉一已牢。
周遮四壁間,
羅幕密以綢。
愁來無際畔,
還能為窮添幽憂。
我有龍文三尺之長劍,
真鋼不作繞指柔。
匣以明月通天虹玉燭銀之寶室,
可以陸剸犀象水斷潛伏之蛟虯。
云昔黃帝軒轅氏,
用斬銅頭銕額橫行天下之蚩尤。
擬將此劍斬愁斷,
昏迷不見愁之喉。
若士為我言,
子識愁意否?
愁至不忘,
以愁生有來由。
閑愁不足計,
空言學庄周。
日中之景君莫避,
處陰息景景不留。
疾行嫌足音,
不如莫行休。
因知萬慮為縈愁之繂,
忘怀為遣累之舟。
歸來衲被蓋頭臥,
從他鼻息鳴齁齁。
取友造物先,
汗漫相與游。
朝躋叫閶闔,
夕駕栖丹丘。
天公向我笑,
金母為我謳。
酌我以瓊漿玉液朝沆瀣之濃劑,
俾我眉壽長千秋。
卻欲強挽愁作伴,
愁忽去我無處蹤跡尋行輈。
惟有春華鬥春媚,
一一蒨絢開明眸。
又有平蕪綠野十百千萬頭鈍悶耕田牛,
踏破南山特石頭。

Phiên âm

Xuân âm khổ vô lại,
Xảo giải cùng điêu sưu.
Nhập ngã phương thốn gian,
Nhưỡng thành nhất bách vạn hộc thương xuân sầu.
Ngã dục ấp thử sầu,
Thốn điền vô địa an sầu sô.
Ốc dĩ nhất thạch ngũ đẩu Đỗ Khang tửu,
Tuý tâm hoàn dữ sầu vi mưu.
Sầu trường cửu chuyển tật xa cốc,
Nhiều nhiều vạn tự hà trù mâu.
Sầu tư thảng khả chức,
Tranh nại bách kiết bất khả trừu.
Ngã dữ sầu tác ác,
Tẩu thượng thiên xích cao lâu.
Lâu thiên xích, tố vân Hán,
Chỉ kiến tứ cực sầu vân phù.
Đô bất kiến đồng bàn chi nhật,
Khuyết nguyệt chi câu.
Thử tâm mạc dữ minh,
Sầu lai áp nhân đầu.
Đào hình nhập minh thất,
Quan bế nhất dĩ lao.
Chu già tứ bích gian,
La mạc mật dĩ trù.
Sầu lai vô tế bạn,
Hoàn năng cung thiêm u.
Ưu ngã hữu long văn tam xích chi trường kiếm,
Chân cương bất tác nhiễu chỉ nhu[1].
Hạp dĩ minh nguyệt, thông thiên, hồng ngọc, chúc ngân chi bảo thất,
Khả dĩ lục đoạn tê tượng thuỷ đoạn tiềm phục chi giao cù.
Vân tích Hoàng Đế Hiên viên thị,
Dụng trảm đồng đầu thiết ngạch hoành hành thiên hạ chi Si Vưu.
Nghĩ tương thử kiếm thác sầu đoạn,
Hôn mê bất kiến sầu chi hầu.
Nhược Sĩ[2] vị ngã ngôn,
Tử thức sầu ý phủ?
Sầu chí bất vong,
Dĩ sầu sinh hữu lai do.
Bế sầu bất túc kế,
Không ngôn học Trang Chu.
Nhật trung chi ảnh quân mạc tỵ,
Xử âm tức ảnh ảnh bất lưu.
Tật hành hiềm túc âm,
Bất như mạc hành hưu.
Nhân tri vạn lự vi oanh sầu chi xuất,
Vong hoài vi khiển lự chi chu.
Quy lai nạp bị cái đầu ngoạ,
Tòng tha tỵ tức minh câu câu.
Thủ hữu tạo vật tiên,
Hãn mạn tương dữ du.
Triêu tê khiếu Xương Hạp,
Tịch giá thê Đan Khâu[3].
Thiên công hướng ngã tiếu,
Kim Mẫu[4] vị ngã âu.
Chước ngã dĩ quỳnh tương, ngọc dịch triêu dương hàng giới chi hàng tế,
Tỷ ngã mi thọ trường thiên thu.
Khước dục cưỡng vãn sầu tác bạn,
Sầu hốt khứ ngã vô xứ tung tích tầm hành châu.
Duy hữu xuân quang đấu xuân mỵ,
Nhất nhất khiếm huyến khai minh mâu.
Hựu hữu bình vu lục dã thập bách thiên vạn đầu độn muộn canh điên ngưu,
Đạp phá Nan sơn đặc thạch đầu.

Dịch nghĩa

Ngày xuân gây nhiwxu nhất, chẳng biết làm thế nào
Nó khéo khoét sâu vào đến cùng
Nó đã xâm nhập lòng ta
Gây nên muôn vạn hộc nỗi buồn thương xuân
Ta muốn múc cạn nỗi buồn này
Trong lòng làm gì có đất cho nỗi buồn ở
Tưới vào đó một tạ năm đấu rượu Đỗ Khang
Nhưng khi lòng đã say lại đồng mưu với nỗi buồn
Nỗi buồn trong lòng chín lần chuyển nhanh như trục xe
Rối ren vạn mối sao mà rậm rịt
Nỗi buồn thảng hoặc có thể dệt
Khổ nỗi trăm mối không thể vào rút ra
Ta cùng với nỗi buồn làm bậy
Chạy lên lầu cao nghìn thước
Lầu nghìn thước, lên tận sông Ngân Hà
Chỉ thấy mây buồn lãng đãng quanh bốn cực
Chẳng thấy mặt trời mâm đồng
Vành trăng khuyết
Lòng này không có gi soi sáng
Nỗi buồn lại đè lên đầu
Như trốn hình phạt chạy vào căn nhà tối
Cài then đóng cửa chắc chắn
Che cả bốn vách
Màn buông trướng rủ lớp lớp
Nỗi buồn không bờ bến
Xâm nhập đến cùng lại buồn hơn
Nỗi buồn lo ta có kiếm hoa văn hình rồng dài ba thước
Bằng phép rắn không bị nhụt
Đựng kiếm trong bầu trời trăng sáng, trong nhà báu có cầu vồng đuốc bạc
Trên cạn chén được tê giác và voi chém thuồng luồng phục sâu đáy nước
Nghe nói xưa hoàng đế Hiên Viên
Dùng kiếm này chém Si Vưu đầu đồng trán sắt dọc ngang thiên hạ
Cứ nghĩ ta đem kiếm này chén sầu, sầu không đứt
Mơ màng không thấy yết hầu của sầu ở nơi nào
Nhược Sĩ nói với ta
Ngài có biết ý của sầu không?
Nỗi buồn đã đến không thể quên
Vì nỗi buồn đến có nguyên cớ
Đóng sầu lại không nhắc đến
Học Trang Chu giữ cho lòng trống trải
Không tránh bóng mình dưới ánh trăng
Vào chỗ dâm hết bóng bóng không còn
Đi nhanh lại ngại tiếng bước chân
Chi bằng đừng đi nữa
Vì biết muôn mối là giây buộc nỗi sầu
Quên lòng là thuyền chở nỗi buồn đi xa
Quay về vùi đầu trong chăn vải
Chìm vào giấc ngủ ngáy kho kho
Đầu tiên tìm thấy mấy người bạn
Cùng nhau đi chơi khắp nơi
Sáng lên gõ cửa nhà trời
Tối quay xe về Đan Khâu
Trời cười với ta
Kim Mẫu hát cho ta nghe
Rót cho ta ngọc dịch quỳnh hương, ban mai uống khí hứng nửa đêm ở phương bắc
Để lông mày thọ của ta dài đến nghìn thu
Toan gượng kéo nỗi buồn làm bạn
Nỗi buồn bỗng đi đâu, ta không tìm ra dấu vết của càng xe
Chỉ còn có hoa xuân đua vẻ đẹp với xuân
Nơi nơi đều bừng lên sáng sủa
Lại thảo nguyên, đồng xanh, hằng trăm, nghìn, vạn con trâu cày ruộng hiền lành
Dẫm nát đá lạ ở núi Nam Sơn

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Biết làm sao ngày xuân nhiễu nhất
Khéo đến cùng càng khoét càng sâu
Lòng ta sầu đã thấm vào
Gây thành trăm vạn hộc sầu thương xuân
Ta những muốn muộn phiền trút hết
Trong lòng đâu có đất nuôi sầu
Đỗ khang tạ rượu tưới vào
Lòng say lại cứ đồng mưu với sầu
Như trục xe chín chiều sầu chuyển
Tựa tơ vò cứ bám chặt thêm
Nỗi buồn nếu thể dệt nên
Chỉ vì chăm mối không lần đâu ra
Ta với sầu bày trò quá ác
Chạy lên trên nghìn thước lầu cao
Ngang tầm với các vì sao
Chỉ thấy bốn cực mây sầu nổi trôi
Chẳng thấy đâu mặt trời mâm trắng
Chẳng thấy đâu vành sáng trăng câu
Âm u chẳng rõ sắc mầu
Lòng này chỉ thấy nỗi sầu trĩu thêm
Như sợ tội chạy tìm nhà tối
Cửa then cài chặn lối đi về
Xung quanh bốn mặt chắn che
Màn buông trướng rủ mọi bề như bưng
Sầu không bờ len từng ngách nhỏ
Kiếm chạm rồng ta có, sầu lo
Kiếm ba thước thép tôi lò
Có đâu chịu khuất nằm đờ trên tay
Đựng kiếm nơi trăng soi vằng vặc
Trong nhà soi đuốc bạc cầu vồng
Voi tê trên cạn chém phăng
Gươm vung xuống nước thuồng luồng lìa thân
Kiếm này xưa Hiên Viên đã diệt
Chết đầu đồng trán sắt Sy Vưu
Nay đem kiếm ấy chém sầu
Mơ màng chẳng rõ nơi đâu hầu sầu
Nói với ta nhớ câu Nhược Sĩ
Ngài có hay được ý sầu không?
Sầu luôn có ở trong lòng
Sầu đâu tự nó bỗng dưng sinh sầu
Bao nhiêu sầu trong đầu xua khỏi
Học Trang Chu trống trải tâm tình
Nắng soi đừng tránh bóng mình
Vào dâm không thấy bóng hình của thân
Bước nhanh nghe tiếng chân thấy ngại
Chi bằng đừng đi lại thì hơn
Muôn lo giây cột nỗi phiền
Thuyền chở xa luỵ, là nên quên lòng
Hãy quay về chui trong chăn vải
Chôn sầu trong tiếng ngáy kho kho
Đầu tiên tìm bạn tâm giao
Cùng nhau thăm thú non cao sông dài
Sáng bước lên cổng trời tay gõ
Tối quay về ngủ trọ Đan Jhâu
Ông trời cười với ta lâu
Với ta Kim Mẫu hát câu trúc mừng
Rót ta thứ kim tương ngọc dịch
Tuổi thọ ta sống kịch nghìn thu
Tìm sầu chén tạc chén thù
Sầu đà đi mất xe đâu vết còn
Chỉ có hoa cùng xuân đua đẹp
Sáng tưng bừng nở khắp nơi nơi
Muôn trâu cày ruộng liền trời
Đạp tan đá lạ mọc trồi Nam San
Bài này tuyển từ Lăng ngữ tập quyển 11, bản Tứ khố toàn thư. Ngọc Xuyên Tử là hiệu của nhà thơ Lư Đồng đời Đường. Bài thơ này lấy đề là Xuân sầu, song khác so với cá bài thương tiếc xuân, không hề có buồn than cho xuân trôi qua, mà là một thứ buồn không lúc nào không có, không nơi nào không sầu tư, thứ buồn này đè trĩu lòng người, trôi nổi bốn cực, nói chung nó có ý nghĩa xã hội rộng rãi của thời đại, nó là dấu ấn của tâm tình buồn khổ của sĩ đại phu Nam Tống lúc bấy giờ.

[1] Trong Trùng tặng Lư Trạm của Lưu Côn có câu “Hà ý bách luyện cương, Hoá vị nhiều chỉ nhu” (Sao thép trăm luyện lại, Thành vật mềm trên tay).
[2] Trang Tử - Chu thuỷ có Bắc Hải Nhược khéo biện thuyết về tương đối giữa lớn và nhỏ, ở đây gọi tắt là Nhược Sĩ, tức là đem quan điểm thông thoáng của Trang Tử ra giải sầu.
[3] Núi tiên trong thần thoại.
[4] Tây Vương Mẫu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tiết Quý Tuyên » Xuân sầu thi hiệu Ngọc Xuyên Tử