25/09/2021 20:42Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thiên thu giám phú
千秋鑑賦

Tác giả: Phạm Tông Mại - 范宗邁

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 16/08/2008 12:32

 

Nguyên tác

伊昔帝庭,
有臣九齡。
懷丹抱素,
含華吐英。
洞達乎治亂之理;感通乎獻替之誠。
乃纂述其興廢;喻厥鑑之甚明。

於是:
運應千秋;辰當令節。
猗歟休哉;其意若曰:
竛竮龜鶴,豈足為祝聖之符;誕謾神仙,胡可語長生之訣。

是鑑也:
至精至明;既融既徹。
道德廣乎規模;禮義堅乎金鐵。
凜其氣兮冰霜;炳其文兮日月。
照之昏者可使明;磨之愚者可使哲。
因載寫以載呈;用爰明而爰潔。
非獨歸美於吾君;而可以為萬世之軌轍。

迨夫:
金門既闢;玉漏初殘。
象魏會梯杭之萬國;龍墀羅劍佩之千官。
海宇慶虹流之瑞;嵩呼騰電繞之驩。

九齡乃:
峨冠陛側;搢笏腰間。
容儀嚴肅;步武舒閒。
間群臣於朝列;回一顧於威顏。
既推誠而獻鑑;復稽首而披肝。
臣言明乎似鑑;臣心赫兮若丹。
眾正於是乎志舒而氣豁;群邪於是乎膽落而毛寒。

故能:
追蹤丙韓;並美姚宋。
照發甫之奸邪;洞見祿之情狀也。

然常怪:
太宗有魏徵而為鑑也,胡為不能致貞觀三十年之太平;明皇亦有九齡為鑑也,乎為不救天寶末年之顛躓。
顧所用之柔何;竊有感於李唐之事。

方今:
祥開瑞旦;慶葉昌期。
萬年億年俾壽;一日二日惟幾。
鑑於先王則有祖宗之成憲;鑑於往事則有耆艾之光輝。
以治亂為鑑者,孰美孰惡;以得失為鑑者,孰妍孰媸。
此愚臣所以稽首獻千秋鑑者,期天子其鑑于茲。

Phiên âm

Y tích đế đình,
Hữu thần Cửu Linh.
Hoài đan bão tố,
Hàm hoa thổ anh.
Động đạt hồ trị loạn thi lý; cảm thông hồ hiến thế chi thành.
Nãi toản thuật kỳ hưng phế; dụ quyết giám chi thậm minh.

Ư thị:
Vận ứng thiên thu; thần đương lệnh tiết.
Y dư hưu tai; kỳ ý nhược viết:
Linh đinh quy hạc, khởi túc vi chúc thánh chi phù; đản mạn thần tiên, hồ khả ngữ trường sinh chi quyết.

Thị giám dã:
Chí tinh chí minh; ký dung ký triệt.
Đạo đức quảng hồ quy mô; lễ nghĩa kiên hồ kim thiết.
Lẫm kỳ khí hề băng sương; bính kỳ văn hề nhật nguyệt.
Chiếu chi hôn giả khả sử minh; ma chi ngu giả sử triết.
Nhân tái tả dĩ tái trình; dụng viên minh nhi viên khiết.
Phi độc quy mỹ ư ngô quân; nhi khả dĩ vi vạn thế chi quỹ triệt.

Đãi phù:
Kim môn ký tịch; ngọc lậu sơ tàn.
Tương nguỵ hội thê hàng chi vạn quốc; long trì la kiếm bội chi thiên quan.
Hải vũ khánh hồng lưu chi thuỵ; tung hô đằng điện nhiễu chi hoan.

Cửu Linh nãi:
Nga quan bệ trắc; tấn hốt yêu gian
Dung nghi nghiêm túc; bộ vũ thư nhàn.
Gián quần thần ư triều liệt; hồi nhất cố ư uy nhan.
Ký suy thành nhi hiến giám; phục khể thủ nhi phi can,
Thần ngôn minh hồ tự giám; thần tâm hách hề nhược đan.
Chúng chính ư thị hồ chí thư nhi khí khoát; quần tà ư thị hồ đảm lạc nhi mao hàn.

Cố năng:
Truy tung Bính, Hàn; tịnh mỹ Diêu, Tống.
Chiếu phát Phủ chi gian tà; động kiến Lộc chi tình trạng dã.

Nhiên thường quái:
Thái Tông hữu Nguỵ Trưng nhi vi giám dã, hồ vi bất năng trí Trinh Quán tam thập niên chi thái bình; Minh Hoàng diệc hữu Cửu Linh vi giám dã, hồ vi bất cứu Thiên Bảo mạt niên chi điên chí.
Cố sở dụng chi hà như; thiết hữu cảm ư Lý Đường chi sự.

Phương kim:
Tường khai thuỵ đán; khánh diệp xương kỳ.
Vạn niên ức niên tỷ thọ; nhất nhật nhị nhật duy ky.
Giám vu tiên vương, tắc hữu tổ tông chi thành hiến; giám vu vãng sự tắc hữu kỳ ngải chi quang huy.
Dĩ trị loạn vi giám giả, thục mỹ thục ác; dĩ đắc thất vi giám giả thục nghiên thục si.
Thử ngu thần sở dĩ khể thủ hiến Thiên thu giám giả, kỳ thiên tử kỳ giám vu tư.

Bản dịch của Tuấn Nghi

Ấy xưa đế đình,
Có chàng Cửu Linh.
Ấp ôm trung nghĩa,
Ngậm nhả tinh anh.
Thấu suốt lẽ đời trị loạn; cảm thông hình sự hiểm lành.
Bèn soạn chép chuyện hưng phế; nêu gương nọ thật rành rành.

Bấy giờ:
Vận ứng thiên thu; thời nhằm giai tiết.
Ôi chao đẹp thay; ý chứng cho biết:
Chông chênh rùa hạc, há đủ làm điềm tốt chúc thánh vương; huyễn hoặc thần tiên, sao nên nói phép màu cầu bất diệt.

Tấm gương ấy:
Tinh tường rất mực; trong sáng vô vàn.
Đạo đức thênh thang khuôn mẫu; lễ nghĩa bền chặt sắc vàng.
Hạo khí như băng sương lẫm liệt; văn hoa như nhật nguyệt huy hoàng.
Soi tới thì tối tăm trở thành sáng suốt; mài vào thì khờ dại hoá ra mở mang.
Thế nên tả nghi để bày tỏ; vậy mới trong sạch mà rõ ràng.
Không chỉ quy đẹp về thánh chùa; mà còn làm khuôn mẫu cho muôn đời.

Đến khi:
Kim môn đã mở; ngọc lập mới tàn.
Khuyết tượng họp thang thuyền muôn nước; thềm rồng bày đai kiếm nghìn quan.
Trong bốn biển cầu vồng tuôn diễm phú; tiếng tung hô vang dậy huyện hân hoan.

Cửu Linh bèn:
Mũ cao phía bệ; hốt dắt ngang lưng.
Dung nghi nghiêm túc; hộ điệu thư nhàn.
Rời khỏi hàng Khanh sĩ; nhìn về phía uy nhan.
Đã đẩy tấm thành lên mà hiến dâng gương báu; tất dạ trung thần đỏ thắm như son.
Đám trung chính từ ấy lòng yên mà khí hả; bọn gian tà từ ấy gáy sởn mà mật tan.

Nên có thể:
Noi dấu Bính, Hàn; sánh đẹp Diêu, Tống.
Soi rõ lòng tà của Lâm Phủ; nhìn thấu tình gian của Lộc Sơn.

Như thường lạ:
Thái tông có Nguỵ Trưng hiến dâng gương tốt mà sao không mang lại được cảnh thái bình cho tới năm Trinh Quán thứ ba mươi; Minh Hoàng cũng có Cửu Linh hiến dâng gương tốt mà không cứu nổi cuộc đảo điên cuối năm Thiên Bảo.
Điều trọng yếu là phải biết dùng gương như thế nào; vì vậy, thấy việc nhà Đường Lý mà chạnh lòng.

Như nay:
Điềm ra ngày tốt; phúc hợp hội lành.
Vạn ức năm trường thọ; một hai ngày là cơ.
Soi nơi vua xưa thì có phép sẵn của tiên tổ; soi nơi việc cũ thì có ánh sáng của lão thành.
Lấy trị loạn làm gương, đâu đẹp đâu xấu; lấy được mất làm gương, đâu dữ đâu lành.
Ấy ngu thần sở dĩ cuối đầu dàng bài Thiên thu giám, là mong được thiên tử soi vào đây chăng.
Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phạm Tông Mại » Thiên thu giám phú