08/02/2023 20:06Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Biệt Lý Nghĩa
別李義

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/03/2015 00:03

 

Nguyên tác

神堯十八子,
十七王其門。
道國洎舒國,
督唯親弟昆。
中外貴賤殊,
余亦忝諸孫。
丈人嗣三葉,
之子白玉溫。
道國繼德業,
請從丈人論。
丈人領宗卿,
肅穆古制敦。
先朝納諫諍,
直氣橫乾坤。
子建文筆壯,
河間經術存。
爾克富詩禮,
骨清慮不喧。
洗然遇知己,
談論淮湖奔。
憶昔初見時,
小襦繡芳蓀。
長成忽會面,
慰我久疾魂。
三峽春冬交,
江山雲霧昏。
正宜且聚集,
恨此當離尊。
莫怪執杯遲,
我衰涕唾煩。
重問子何之,
西上岷江源。
願子少幹謁,
蜀都足戎軒。
誤失將帥意,
不如親故恩。
少年早歸來,
梅花已飛翻。
努力慎風水,
豈惟數盤飧。
猛虎臥在岸,
蛟螭出無痕。
王子自愛惜,
老夫困石根。
生別古所嗟,
發聲為爾吞。

Phiên âm

Thần Nghiêu[1] thập bát tử,
Thập thất vương kỳ môn.
Đạo[2] quốc kịp Thư[3] quốc,
Đốc duy thân đệ côn.
Trung ngoại quý tiện thù,
Dư diệc thiêm chư tôn[4].
Trượng nhân[5] tự tam diệp,
Chi tử bạch ngọc ôn.
Đạo quốc kế đức nghiệp,
Thỉnh tòng trượng nhân luân.
Trượng nhân lãnh tông khanh,
Túc mục cổ chế đôn.
Tiên triều nạp gián tránh,
Trực khí hoành càn khôn.
Tử Kiến[6] văn bút tráng,
Hà Gian[7] kinh thuật tồn.
Nhĩ khắc phú thi lễ,
Cốt thanh lự bất huyên.
Tẩy nhiên ngộ tri kỷ,
Đàm luận Hoài hồ bôn.
Ức tích sơ kiến thì,
Tiểu nhu tú phương tôn.
Trưởng thành hốt hội diện,
Uỷ ngã cửu tật hồn.
Tam giáp xuân đông giao,
Giang sơn vân vụ hôn.
Chính nghi thả chúng tập,
Hận thử đương ly tôn.
Mạc quái chấp bôi trì,
Ngã suy thế thoá phiền.
Trùng vấn tử hà chi,
Tây thướng Mân giang nguyên.
Nguyện tử thiếu cán yết,
Thục đô túc nhung hiên.
Ngộ thất tướng suý ý,
Bất tri thân cố ân.
Thiếu niên tảo quy lai,
Mai hoa dĩ phi phiên.
Nỗ lực thận phong thuỷ,
Khởi duy số bàn xôn.
Mãnh hổ ngoạ tại ngạn,
Giao ly xuất vô ngân.
Vương tử tự ái tích,
Lão phu khốn thạch căn.
Sinh biệt cổ sở tai,
Phát thanh vị nhĩ thôn.

Dịch nghĩa

Thần Nghiêu có mười tám người con,
Thì mười bảy được giữ tước vương trong dòng của mình.
Đạo quốc rồi tiếp theo là Thư quốc,
Chăm sóc nhau thân như anh em.
Trong ngoài tuy giàu nghèo có khác,
Tôi cũng khiêm tốn nhận là vào hàng cháu.
Bác nay là thuộc đời thứ ba,
Các con của bác hưởng hơi ấm của dòng tộc.
Đạo quốc kế tục cơ nghiệp của ông cha,
Gọi bác tới để cùng bàn.
Bác nhận lãnh công tác về các chức vụ trong hoàng tộc,
Bác nghiêm túc coi xét lại các lệ xưa.
Triều vua trước đã đưa ra bài tranh biện,
Lý lẽ cương cường đã vang cùng trời đất.
Bác có được cái thế mạnh của ngôn từ giống Tử Kiến,
Khiến cho việc thu thập kinh điển giống Hà Gian còn truyền lại được.
Bác nắm vững được thơ với lễ,
Lòng trong không sợ ồn.
Thản nhiên gặp được người hiểu mình,
Nói về chuyện tới vùng sông Hoài và hồ Động Đình này.
Nhớ xưa lúc mới gặp,
Áo cánh thêu hoa thơm.
Tới lớn bỗng gặp mặt,
Khiến tôi đến hết hồn.
Nay là lúc trời Tam Giáp đang trở lạnh,
Núi sông mây khói tù mù.
Chính ra là nên tụ tập lại cho thoả ý,
Thế mà buồn vì uống đưa chén chia tay.
Chớ lạ khi thấy nâng ly chậm,
Tôi già rồi lệ buồn cứ giỏ hoài.
Lại hỏi thăm vác ra sao,
Đi về vùng phía tây nơi phát nguyên sông Mân.
Mong cho bác ít lòng cầu cạnh người.
Vì nơi Thành Đô xe của các vị tướng suý có đủ rồi.
Nhỡ ra mà làm mất lòng họ,
Thì họ chẳng kể gì đến ơn nghĩa cũ đâu.
Hãy sớm trở về khi còn mạnh khoẻ,
Hoa mai đã rơi tơi tả rồi.
Hãy cố mà giữ gìn gió nước,
Đâu phải chỉ mấy lần ăn uống.
Ngay nơi bờ, hỗ dữ chờ đó,
Sấu giải hiện ra bất chừng.
Thôi con vua hãy tự giữ mình,
Tôi thì già bị kẹt trong hốc đá này đây.
Khi sống mà phải chia ly thì từ xưa đã là đáng than rồi,
Định nói ra, nhưng vì bác mà lại nín luôn.

Bản dịch của Phạm Doanh

Thần Nghiêu trai mười tám,
Mười bảy chúa vẫn còn.
Đạo quốc, rồi Thư quốc,
Anh em vẫn quây quần.
Giẩu, nghèo nội ngoại khác,
Tôi lạm hàng cháu con.
Ba đời bác nối dõi,
Con cháu được ấm êm.
Nghiệp nhà, Đạo quốc tiếp,
Mời Bác tới để bàn.
Bác nhận việc hoàng tộc,
Lệ xưa chăm chắm biên.
Triều trước đưa tranh luận,
Nói thẳng vung càn khôn.
Văn mạnh, giống Tử Kiến,
Theo xưa, hệt Hà Gian.
Thi, Lễ bác nắm vững
Lòng trong chẳng sợ ồn.
Thản nhiên gặp tri kỷ,
Chuyện Hoài, Hồ cùng tuôn.
Nhớ xưa lúc mới gặp,
Áo cánh thêu hoa thơm.
Lớn lên bỗng gặp gỡ,
Khiến tôi đến hết hồn.
Tam giáp trời trở lạnh,
May khói mờ núi non.
Lẽ ra phải xum họp,
Rượu chia tay khiến buồn.
Chớ lạ nâng ly chậm,
Tôi già lệ rơi luôn.
Lại hỏi thăm với bác,
Về tây, đầu sông Mân.
Mong Bác ít ham lộc,
Thành Đô đủ xe quân.
Lỡ làm phật ý tướng,
Người cũ chẳng kể ơn.
Sớm quay về khi trẻ,
Hoa mai thấy đã tàn.
Ráng sức giữ gió máy,
Chẳng vì ăn uống luôn.
Bên bãi hổ dữ nấp,
Bất chợt giao ly trườn.
Con vua hãy bảo trọng,
Ông già rễ đá ngăn.
Sống lìa, từ xưa khổ,
Mở lời, vì bác im.
(Năm 767)

[1] Tức Thần Nghiêu Đại Thánh Quang Hiếu Hoàng Đế (Lý Uyên) 神堯大聖光孝皇帝, ở ngôi từ năm 618 đến 626.
[2] Tức Đạo Vương Nguyên Khánh 道王元慶, con thứ 16 của Đường Cao Tổ.
[3] Tức Thư Vương Nguyên Danh 舒王元名, con thứ 18 của Đường Cao Tổ.
[4] Lý Nghĩa là cháu nội của Đạo Vương, mà Đỗ Phủ là hậu duệ của cháu ngoại Thư Vương.
[5] Chỉ Lý Nghĩa.
[6] Tào Thực 曹植 (192-232), một thi nhân thời Tam Quốc, con của Nguỵ Vũ Đế Tào Tháo.
[7] Hà Gian Hiến Vương 河間獻王 (? - 130 tr.CN), tên Đức 德, con của Hán Cảnh Đế, được phong Hà Gian Vương 河間王, khi chết có tên thuỵ là Hiến 獻. Ham tìm hiểu cái cổ xưa, thu thập được nhiều tài liệu về thời Tiên Tần, các nhà nho vùng Sơn Đông theo học ông rất nhiều.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Biệt Lý Nghĩa