05/12/2022 01:18Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bái thạch vi huynh phú

Tác giả: Phan Bội Châu - 潘佩珠

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Hungan vào 22/09/2007 00:16

 

Phiên âm

(Dĩ thạch bất năng ngôn tín khả nhân vi vận)

Nguyệt lạc Thương Giang,
Vận đôi Hoàng Thạch.
Liệm khước trần dung;
Túc thử kiệt khách.
Tung tằng lăng chi ngạc cốt, chi ưng trưởng ngã thập niên;
Ấp lỗi lạc chi kỳ tư, liêu phục nhượng quân bán tịch.
Diệc dĩ:
Thạch chi vi vật, nguy nguy ngật ngật
Thái thượng nhân chi vong tình;
Đại trượng phu chi bất khuất.
Kình thiên tác trụ, tiên vạn cổ chi cương thường;
Trịch địa thành danh, hướng lưỡng gian chi văn bút.
Kiến chỉ cấn chỉ, huynh giả phỉ tha,
Kính chi ái nhi, bái hồ cảm bất.
Thời hoặc:
Tinh lam phỏng; viễn trục đăng.
Nhan sả tiếp; thần hốt ngưng.
Nham yêu tùng nhi tiệm khẩn;
Sơn kiên túng nhi vi lăng.
Trịch thương thanh trung, hưởng minh truyền chi vạn điệp;
Chỉnh y lập xứ, phi túc chướng chi thiên tằng.
Thị hoán kha kha, định điểm đầu dĩ thương hứa;
Phi hiềm lục lục, khỉ chiết yêu nhi bất năng.
Phùng quân bán diện; thính ngã nhất ngôn.
Nhất xang khối lội;
Song nhãn càn khôn.
Tùng chi biên hề hạc tử;
Cốc chi trung hề lan tôn.
Duy quân dã sương vi mao, ngọc vi tuỷ,
Duy ngã dã tuyết vi phách, băng vi hồn.
Ngã nguyệt tố đệ; huynh đương thị côn.
Thỉnh xai bá thi chi cư, ngũ bách niên tiền hà xứ;
Hợp tự trường quân chi xỉ, thập nhị hội vi nguyên.
Tự ngoan tự si; diệc hào diệc tuấn.
Cố miện tương lân; ngang tàng tự tín
Nhược can niên bất khuất tất, khỉ ưng vũ vũ lương lương...
Kiến tân nguyệt tiện hạ giai; tương đối truân truân lận lận.
Ninh hiềm cức bái, bân biên chi bộc bộc kỷ hồi;
Khỉ nhã nan huynh, bích lập chi nhan nhan vạn nhẫn.
Vạn tụ huề quy; bán song bồi toạ.
Đông hải thổ thôn; bồng lai hữu tả.
Thác tân hoa chi ngũ sắc, khả nhân khả nhân,
Uẩn mỹ phác chi liên thành, loại ngã loại ngã.
Toại linh:
Vong hình hài; duyệt u nhã
Lạc hữu hiền huynh; diệc viết bái khả.
Vi thừa nguyệt nhi cứ hổ báo[1], Xích Bích thuyền đầu:
Thả lâm phong nhi ấp thần tiên, Cốc Thành[2] sơn hạ.
Nại hữu:
Khầm thương vũ, ngạo hồng trần.
Đảng hung tắc bát cửu Vân Mộng[3];
Kiết lô ư vạn hác tùng quân.
Hỷ Mễ huynh chi vi lão; chiêu thạch tính dĩ vi lân
Tam sinh điền hải chi tư, vị vong tương bá;
Nhất phiến bổ thiên chi lực, hựu thị phùng quân.
Đệ tương:
Túc y quan nhi chỉnh bái;
Kỳ tứ hải dĩ vi xuân
(Bất áp nhân vận[4])

Bản dịch của Tôn Quang Phiệt

(Theo các vần: thạch bất năng ngôn tín khả nhân)

Trăng xuống Hương Giang;
Mây dồn Hoàng Thạch.
Chỉnh hình dáng thường;
Kính người quí khách.
Xem cốt cách rắn rỏi, tuổi nay hơn tớ mười năm;
Tiếp phong tư lạ kỳ, chiếu hãy nhường anh nửa chiếc.
Đã thấy:
Đá là một vật; cao cao ngất ngất
Bậc thái thượng vô tình;
Đại trượng phu bất khuất
Chống trời làm trụ, cương thường nên suốt ngàn xưa;
Ném đất thành âm, văn bút[5] vang lừng trời đất
Đã thấy đã gặp, anh đó chứ ai;
Đáng kính đáng yêu, tôi xin lạy thật.
Có khi:
Gặp buổi quang tạnh, lên núi tung tăng
Dung nhan vừa tiếp xúc, tinh thần bỗng bâng khuâng.
Sườn non rậm rì bờ bụi;
Vai núi nổi thành kỳ lăng[6].
Vút gậy tiếng vang, suối dội kêu lên muôn lớp;
Mặc áo ngồi lại, gạt tan chướng khí ngàn tầng.
Thử gọi đàn anh, chắc đã “gật đầu” hứa hẹn;
Hiềm chi bé nhỏ, há rằng không thể khom lưng.
Cùng anh gặp gỡ, nghe tôi phát ngôn.
Một lòng sành sỏi,
Hai mắt càn khôn.
Bên tùng là hạc tử;
Trong hang là lan tôn[7].
Nghĩ như anh xương là lông, ngọc là tuỷ;
Còn như em tuyết là phách, băng là hồn.
Tôi xin làm em út, anh chính là bậc côn[8].
Đoán xem bá thị ngày xưa, năm trăm năm đâu là quê quán;
Tính lại “trường quân[9]” bao tuổi, mười hai hội ấy là một nguyên.
Như ngoan[10] như si[11] cũng hào cũng tuấn,
Nhìn nhau tương lân[12] cùng nhau tự tín.
Đã bao năm, không uốn gối, phải đâu ra vẻ lạnh lùng,
Thấy trăng mới, liền xuống thềm, cùng để tỏ lòng vương vấn.
Đâu hiềm chi lạy mãi, bên mây theo đuổi bao phen,
Há ngại khó làm anh, thẳng vách trông cao muôn nhẫn[13].
Kéo áo dìu về, trước cửa bồi toạ,
Đông hải ra vào, bồng lai hữu tả.
Hoa mới rõ màu năm sắc, người khá khá ghê;
Ngọc lành đáng giá liên thành, giống ta giống quá.
Cho nên:
Quên hình hài, yêu nhàn nhã.
Vui có anh hiền, xin vâng bái tạ.
Chưa nhận trăng để cưỡi beo cọp, đâu thuyền Xích Bích rong chơi;
Hãy đón gió mà vái thần tiên, dưới núi Cốc Thành nấn ná.
Nay có kẻ:
Dọc ngang vũ trụ; chế nhạo hồng trần.
Rửa bụng bằng tám chín đầm Vân Mộng;
Làm nhà dưới hàng muôn hác tùng quân.
Mừng anh Mễ chưa già mấy, mời chất đá để làm lân[14].
Ba sinh lấp bể có lòng, chưa quên nhờ bác giúp;
Một mảnh vá trời ra sức, này lại gặp người thân.
Em xin:
Chĩnh áo khăn mà lạy tạ;
Mong bốn bể cũng đều xuân
(Không áp vần nhân)
Năm 1897 (khoa Đinh Dậu), sau vụ án “Hoài hiệp văn tư, chung thân bất đắc ứng thí” (mang sách vào trường thi, suốt đời không được đi thi), Phan Bội Châu vào kinh đô Huế, vừa để vận động xoá án, vừa tìm cách liên kết các nhà chí sĩ. Nhân dịp Tế Tửu của Quốc tử giám là Khiếu Năng Tĩnh ra cho học trò bài phú có nhan đề là “bái thạch vi huynh” (tôn đá làm anh), Phan Bội Châu đã làm nhiều người như Khiếu Năng Tĩnh, Nguyễn Thượng Hiền thán phục, và được chép truyền nhiều nơi trong nước. Phan Bội Châu thêm một lần nổi tiếng khí phách và có văn tài từ bài phú này, đặc biệt là với giới sĩ phu trong nước. Về văn bản, bài phú chép lại trên đây, chắc còn có sai sót, mong được bổ khuyết.

Nguồn:
1. Thơ phú câu đối chữ Hán Phan Bội Châu, NXB Văn học, 1975
2. Tạp chí Văn học, số tháng 12-1964
Bản dịch trên đây là của Tôn Quang Phiệt và có dựa theo bản dịch của Ngô Lập Chi trên Tạp chí Văn học tháng 12-1964.

[1] Beo cọp, đây nói hình các hòn đá. Thuyền Xích Bích: do điển Tô Đông Pha xưa chơi thuyền trên sông Xích Bích và làm bài phú Xích Bích nổi tiếng.
[2] Nơi Trương Lương gặp Hoàng Thạch (tiên).
[3] Bài Tử hư phú của Tương Như có câu: “Bụng nuốt đầm Vân Mộng” ý nói bụng rộng bao la.
[4] Phan Bội Châu đã bỏ vần nhân không áp vận. Khiếu Năng Tĩnh từng phê “Tích trạng nguyên hữu Vô tâm chi phú, kim quân hầu cách mục hạ vô nhân, khả phát nhất tiếu” (xưa trạng nguyên có bài phú Vô tâm, nay người lại mục hạ vô nhân thật đáng buồn cười).
[5] có nghĩa như văn chương.
[6] Cồn, gò.
[7] Ý nói: bên cây tùng có chim hạc, trong hang đá có cây lan.
[8] Anh.
[9] Tức trường sinh chân quân, một phái Lão sống mãi không chết. Theo Thiệu Tử, kể từ khi trời đất mới mở mang có một nguyên mười hai hội.
[10] Cứng đầu cứng cổ.
[11] Ngu ngốc.
[12] Cùng thương nhau.
[13] Đơn vị đo lường đời nhà Chu (Trung Quốc). Một nhẫn bằng tám thước.
[14] Láng giềng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phan Bội Châu » Bái thạch vi huynh phú