04/12/2020 13:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ô diêm giốc hành
烏鹽角行

Tác giả: Đới Phục Cổ - 戴復古

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi Hà Như vào 26/03/2013 14:51

 

Nguyên tác

鳳簫鼉鼓龍鬚笛,
夜宴華堂醉春色。
艷歌妙舞蕩人心,
但有歡娛別無益。
何如村落捲桐吹,
能使時人知稼穡。
村南村北聲相續,
青郊雨後耕黃犢。
一聲催得大麥黃,
一聲喚得新秧綠。
人言此角只兒戲,
孰識古人吹角意。
田家作勞多怨咨,
故假聲音召和氣。
吹此角,起東作。
吹此角,田家樂。
此角上與鄒子之律,
同宮商,合鍾呂。
形甚朴,聲甚古,
一吹寒谷生禾黍。

Phiên âm

Phụng tiêu[1] đà cổ long tu địch,
Dạ yến hoa đường tuý xuân sắc.
Diễm ca diệu vũ đãng nhân tâm,
Đãn hữu hoan ngu biệt vô ích.
Hà như thôn lạc quyển đồng xuy,
Năng sử thì nhân tri giá sắc.
Thôn nam thôn bắc thanh tương tục,
Thanh giao vũ hậu canh hoàng độc.
Nhất thanh thôi đắc đại mạch hoàng,
Nhất thanh hoán đắc tân ương lục.
Nhân ngôn thử giốc chỉ nhi hí,
Thục thức cổ nhân xuy giốc ý.
Điền gia tác lao đa oán tư,
Cố giá thanh âm triệu hoà khí.
Xuy thử giốc, khởi đông tác[2].
Xuy thử giốc, điền gia lạc.
Thử giốc thượng dữ Trâu Tử[3] chi luật,
Đồng cung thương, hợp chung lữ[4].
Hình thậm phác, thanh thậm cổ,
Nhất xuy hàn cốc sinh hoà thử.

Dịch nghĩa

Tiêu phượng, trống da cá xấu, sáo râu rồng
Tiệc đêm trong nhà đẹp say sắc xuân
Ca hay múa đẹp làm rung động lòng người
Các thứ này chỉ vui thú thôi chẳng có ích gì
Sao bằng cuốn lá thổi với nhau nơi thôn dã
Khiến xóm làng biết mùa màng đã tới
Thôn nam, thôn bắc tiếng cứ nối nhau
Cánh đồng xanh sau mưa, con bê vàng đi cày
Một tiếng thúc đại mạch chín vàng
Một tiếng gọi mầu xanh của mạ
Người ta bảo thứ tù và này chỉ là đồ chơi của trẻ
Ai là người hiểu ý người xưa thổi tù và?
Nhà nông oán hờn vì làm lụng vất vả
Nên mượn âm thanh để khuyến khích niềm vui
Thổi tù và này, hừng đông ra đồng làm việc
Thổi tù và này, nhà nông vui
Tù và này, trên so với luật của Trâu Tử
Cùng cung thương, hợp chung lữ
Dáng rất giản dị, tiếng rất cổ
Khi thổi lên, trong hang lạnh mọc lên lúa kê.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Sáo long tu trống đà tiêu phượng
Say sắc xuân đèn sáng tiệc tùng
Ca hay múa đẹp đắm lòng
Chỉ là vui thú, ngoài không ích nào
Cuốn kèn lá bằng sao thôn dã
Để trong thôn biết đã mùa màng
Thôn nam, thôn bắc tiếp vang
Sau mưa cày ruộng bê vàng đồng xanh
Mùa đại mạch vàng nhanh tiếng thúc
Xanh biếc mầu mạ mọc tiếng đưa
Giốc này người bảo trẻ đùa
Là ai biết giốc người xưa thổi gì?
Nhà nông oán khổ vì vất vả
Mượn tiếng này vui hả cho khuây
Tiếng giốc thổi sáng ra cày
Nhà nông thổi giốc chứa đầy niềm vui
Giốc này sánh so vời Trâu Tử
Luật hợp cùng chung lữ, cung thương
Tiếng rất cổ, hình rất thường
Thổi trong hang lạnh mọc bừng lúa kê.
Bài thơ này tuyển từ Thạch bình thi tập quyển 1, bản Tứ khố toàn thư. Ô diêm giốc là tên một khúc hát, nguyên là một tiểu điệu trong dân gian. Vào mùa xuân, trẻ con Giang Nam thường cuộn lá cây đồng thành hình tù và để thổi. Tác giả sống nhiều năm ở giang hồ, rất thông thạo nhân tình phong thổ ở các nơi, nên làm bài này để ghi lại, cũng kèm theo ý châm biếm.

[1] Tiếng tiêu trong như tiếng chim phượng kêu nên có tên Đà Cổ, trống bưng bằng ra cá sấu, lại vì khi gõ tiếng kêu “bung bung” như tiếng cá xấu kêu nên có tên Long Tu Địch, dùng sợi hình như râu rồng làm tua trang sức cho cây sáo. Cả ba thứ trên đều là nhạc khí của các nhà hào phú.
[2] Sáng ra cày cấy dưới ánh nắng mặt trời.
[3] Tức Trâu Diễn người Lâm Tri nước Tề thời chiến quốc, có thể nắm được biểu hiện của âm dương, phân biệt được chuyện quái dị viển vông, viết sách hơn 10 vạn chữ đều lớn lao khác thường. Liệt tử - Thang vấn: “Vi hĩ tử chi đàn, Trâu Diễn chi xuy luật, Sư Khoáng chi thanh giác, vong dĩ gia chi” (Tiếng đàn của ngài thật là hết nhẽ, tuy tiếng sáo của Trâu Diễn, tiếng giác của Sư Khoáng, cũng không thể hơn được). Chú rằng: “Phương bắc có đất, tốt nhưng rất lạnh, ngũ cốc không mọc được”.
[4] Chung là chuông, chung lữ là một loại chuông mẫu, dùng để đo độ cao thấp của âm luật.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đới Phục Cổ » Ô diêm giốc hành