24/01/2020 08:53Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng đồng Quách cấp sự “Thang đông linh tưu tác”
奉同郭給事湯東靈湫作

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 16/01/2014 04:34

 

Nguyên tác

東山氣鴻蒙,
宮殿居上頭。
君來必十月,
樹羽臨九州。
陰火煮玉泉,
噴薄漲岩幽。
有時浴赤日,
光抱空中摟。
閬風入轍跡,
曠原延冥搜。
沸天萬乘動,
觀水百丈湫。
幽靈斯可佳,
王命官屬休。
初聞龍用壯,
擘石摧林丘。
中夜窟宅改,
移因風雨秋。
倒懸瑤池影,
屈注滄江流。
味如甘露漿,
揮弄滑且柔。
翠旗澹偃蹇,
雲車紛少留。
簫鼓蕩四溟,
異香泱漭浮。
鮫人獻微綃,
曾祝沉豪牛。
百祥奔盛明,
古先莫能儔。
坡陀金蝦蟆,
出見蓋有由。
至尊顧之笑,
王母不肯收。
複歸虛無底,
化作長黃虯。
飄搖青瑣郎,
文采珊瑚鉤。
浩歌淥水曲,
清絕聽者愁。

Phiên âm

Đông sơn khí hồng mông,
Cung điện cư thượng đầu.
Quân lai tất thập nguyệt,
Thụ vũ lâm cửu châu.
Âm hoả chử ngọc tuyền,
Phún bạc trướng nham u.
Hữu thì dục xích nhật,
Quang bão không trung lâu.
Lãng phong[1] nhập triệt tích,
Khoáng nguyên[2] diên minh sưu.
Phí thiên vạn thừa động,
Quan thuỷ bách trượng tưu.
U linh tư khả giai,
Vương mệnh quan thuộc hưu.
Sơ văn long dụng tráng,
Phách thạch tồi lâm khâu.
Trung dạ quật trạch cải,
Di nhân phong vũ thu.
Đảo huyền dao trì ảnh,
Quật chú thương giang lưu.
Vị như cam lộ tương,
Huy lộng hoạt thả nhu.
Thuý kỳ đạm yển kiển,
Vân xa phân thiểu lưu.
Tiêu cổ đãng tứ minh,
Dị hương ương mãng phù.
Giao nhân[3] hiến vi tiêu,
Tằng Chúc[4] trầm hào ngưu.
Bách tường bôn thịnh minh,
Cổ tiên mạc năng trù.
Pha đà kim hà mô,
Xuất kiến cái hữu do.
Chí tôn cố chi tiếu,
Vương mẫu bất khẳng thu.
Phức quy hư vô để,
Hoá tác trường hoàng cầu[5].
Phiêu dao thanh toả[6] lang,
Văn thái san hô câu.
Hạo ca lục thuỷ khúc,
Thanh tuyệt thính giả sầu.

Dịch nghĩa

Núi Đông (tức Ly sơn), khí trời mù mịt,
Cung điện ngay ở trên đầu.
Cứ tháng mười nhà vua tới đây,
Cắm cờ khắp chín châu.
Lửa đất đun suối ngọc,
Phun đầy sườn núi âm u.
Có lúc tắm mặt trời đỏ,
Sáng bao trùm cả cái lầu.
Gió lùa theo dấu vào,
Đồng rộng lẩn chỗ tối.
Rung trời chuyển ngàn xe,
Coi ao nước trăm thước.
Cái vẻ nhiệm mầu sao mà đẹp,
Khi các quan thoái chầu.
Mới nghe rồng vùng vẫy,
Phá đá, rung gò rừng.
Nửa đêm đổi huyệt ở,
Rời khi mưa gió vào mùa thu.
Lộn ngược bóng Dao Trì,
Đổi dòng sông Thương.
Vị như nước cam lộ,
Xoa tay chơi thấy nhẹ và mềm.
Cờ xanh rủ tha thướt,
Xe mây đậu liền liền.
Trống, sáo vang bốn bể,
Hương lạ toả sực nức.
Người cá dâng lụa mềm,
Viên quan chủ buổi tế thả trâu béo.
Trăm điềm lành xảy ra vào đời thịnh, vua anh minh,
Trước kia đâu có sánh kịp.
Cóc vàng dưới đáy hồ,
Hiện ra hẳn có cớ.
Vua quay nhìn cười,
Vương Mẫu không thể đòi lại được.
Lại quay xuống vực sâu thẳm,
Hoá thành con câu vàng dài.
Lâng lâng là chàng khoá xanh kia,
Dáng vẻ đầy thanh nhã.
Ca vang bài “Nước biếc”,
Nghe cao vút mà buồn!

Bản dịch (của Bản dịch của Nhượng Tống)

Non Đông hơi mịt mù
Cung điện ở trên đầu
Vua cứ tháng mười tới
Dựng cờ coi chín châu
Lửa ngầm đun suối ngọc
Phun tưới vùng non cao
Có lúc tắm vầng đỏ
Trong không sáng rọi lầu
Lăng phong bước lần tới
Khoáng nguyên lối tìm vào
Rậy đất muôn xe động
Xem đầm trăm trượng sâu
Lạ thay chuyện linh hiển
Khi các quan lui chầu
Đá nứt ngàn cây đổ
Rồng thiêng hoá phép màu
Nửa đêm di chỗ ở
Gió gấp, mưa tuôn rào
Đền ngọc bóng lộn ngược
Sông thương, dòng rót mau
Mùi như nước cam lộ
Mát tay khi khoả ngầu
Cờ thuý rủ tha thướt
Xe mây bầy trước sau
Sáo, đàn vang bốn bể
Trời rộng hương ngạt ngào
Giao nhân dâng gấm vóc
Tằng Chúc dìm dê, trâu
Điềm tốt họp đời thịnh
Xưa nay bì kịp đâu
Cóc vàng dưới bờ suối
Hiện ra vì cớ sao?
Đức vua quay lại cười
Đức mẹ chẳng nhận nào
Trở lại đáy hư vô
Hoá ra con hoàng cầu
Phất phơ chàng khoá xanh
Vẻ người thật phong lưu
Ca hát khúc sông biếc
Rót tai như gợi sầu
(Năm 755)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1, 2] Lãng phong, khoáng nguyên: hai cảnh tiên.
[3] Một giống người dưới đáy biển, có tài dệt tơ lụa và khóc ra ngọc trai.
[4] Chu Mục Vương qua núi Yên Nhiên, sai Tằng Bá dìm dê, trâu xuống sông để tế thần hà bá.
[5] Một giống rồng không sừng. Đỗ Phủ dùng để ví với An Lộc Sơn khi đó sắp nổi loạn.
[6] Khoá sơn xanh, dùng ở cửa dinh quan cấp sự.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phụng đồng Quách cấp sự “Thang đông linh tưu tác”