02/03/2021 18:28Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tống trùng biểu điệt Vương Lệ bình sự sứ Nam Hải
送重表侄王砅評事使南海

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/03/2015 22:19

 

Nguyên tác

我之曾祖姑,
爾之高祖母。
爾祖未顯時,
歸為尚書婦。
隋朝大業末,
房杜俱交友。
長者來在門,
荒年自糊口。
家貧無供給,
客位但箕帚。
俄頃羞頗珍,
寂寥人散後。
入怪鬢髮空,
籲嗟為之久。
自陳翦髻鬟,
鬻市充杯酒。
上云天下亂,
宜與英俊厚。
向竊窺數公,
經綸亦俱有。
次問最少年,
虯髯十八九。
子等成大名,
皆因此人手。
下云風雲合,
龍虎一吟吼。
願展丈夫雄,
得辭兒女醜。
秦王時在坐,
真氣驚戶牖。
及乎貞觀初,
尚書踐台鬥。
夫人常肩輿,
上殿稱萬壽。
六宮師柔順,
法則化妃後。
至尊均嫂叔,
盛事垂不朽。

鳳雛無凡毛,
五色非爾曹。
往者胡作逆,
乾坤沸嗷嗷。
吾客在馮翊,
爾家同遁逃。
爭奪至徒步,
塊獨委蓬蒿。
逗留熱爾腸,
十里卻呼號。
自下所騎馬,
右持腰間刀。
左牽紫遊韁,
飛走使我高。
苟活到今日,
寸心銘佩牢。
亂離又聚散,
宿昔恨滔滔。
水花笑白首,
春草隨青袍。
廷評近要津,
節制收英髦。
北驅漢陽傳,
南泛上瀧舠。
家聲肯墜地,
利器當秋毫。
番禺親賢領,
籌運神功操。
大夫出盧宗,
寶貝休脂膏。
洞主降接武,
海胡舶千艘。
我欲就丹砂,
跋涉覺身勞。
安能陷糞土,
有志乘鯨鼇。
或驂鸞騰天,
聊作鶴鳴皋。

Phiên âm

Ngã chi tằng tổ cô,
Nhĩ chi cao tổ mẫu.
Nhĩ tổ vị hiển thì,
Quy vi thượng thư[1] phụ.
Tuỳ triều đại nghiệp mạt,
Phòng Đỗ[2] câu giao hữu.
Trưởng giả lai tại môn,
Hoang niên tự hồ khẩu.
Gia bần vô cung cấp,
Khách vị đán ky trửu.
Nga khoảnh tu phả trân,
Tịch mịch nhân tán hậu.
Nhập quái mấn phát không,
Dụ ta vi chi cửu.
Tự trần tiễn cát hoàn,
Dục thị sung bôi tửu.
Thượng vân thiên hạ loạn,
Nghi dữ anh tuấn hậu.
Hướng thiết khuy số công,
Kinh luân diệc câu hữu.
Thứ vấn tối thiếu niên,
Câu nhiêm thập bát cửu.
Tử đệ thành đại danh,
Giai nhân thử nhân thủ.
Hạ vân phong vân hợp,
Long hổ nhất ngâm hú (hống).
Nguyện triển trượng phu hùng,
Đắc từ nhi nữ xú.
Tần vương[3] thì tại toà,
Chân khí kinh hộ dũ.
Cập hồ Trinh Quán sơ[4],
Thượng thư tiễn đài đấu.
Phu nhân thường kiên dư,
Thướng điện xưng vạn thọ.
Lục cung sư nhu thuận,
Pháp tắc hoá phi hậu.
Chí tôn quân tẩu thúc,
Thịnh sự thuỳ bất hủ.

Phượng sồ vô hoàn mao,
Ngũ sắc phi nhĩ tào.
Vãng giả Hồ[5] tác nghịch,
Càn khôn phất ngao ngao.
Ngô khách tại bằng dực,
Nhĩ gia đồng độn đào.
Tranh đoạt chí tẩu bộ,
Khối độc uỷ bồng cao.
Đậu lưu thục nhĩ trường,
Thập lý khước hô hào.
Tự hạ sở kỵ mã,
Hữu trì yêu gian đao.
Tả khiên tử du cương,
Phi tẩu sử ngã cao.
Cẩu hoạt đáo kim nhật,
Thốn tâm minh bội lao.
Loạn ly hựu tụ tán,
Túc tích hận thao thao.
Thuỷ hoa tiếu bạch thủ,
Xuân thảo tuỳ thanh bào.
Đình bình cận yếu tân,
Tiết chế thu anh mao.
Bắc khu Hán Dương truyến,
Nam phiếm thướng Lang[6] đao.
Gia thanh khẳng truỵ địa,
Lợi khí đương thu hào.
Phiên ngung thân hiền lĩnh,
Trù vận thần công thao.
Đại phu[7] xuất lư tông,
Bảo bối hưu chi cao.
Động chủ hàng tiếp vũ,
Hải hồ bạc thiên sưu.
Ngã dục tựu đan sa,
Bạt thiệp giác thân lao.
An năng hãm phấn thổ,
Hữu chí thừa kình ngao[8].
Hoặc tham loan đằng thiên,
Liêu tác hạc minh cao.

Dịch nghĩa

Bà cô cố tổ của chú,
Lại là bà cố tổ nội của cháu.
Cụ tổ bên cháu lúc còn hàn vi,
Thì bà cô cố tổ của chú về làm vợ của quan thượng thư.
Lúc cơ nghiệp nhà Tuỳ đổ nát lớn,
Với họ Đỗ, họ Phòng vẫn thường qua lại.
Lớn lên tới tại cửa nhà,
Năm đói kém cứ tự đi kiếm ăn.
Nhà nghèo không có gì để ăn,
Đóng vai khách chỉ quanh quẩn trong nhà.
Sau đó có phần hơi được quý trọng,
Vắng vẻ sau khi người đã rã đám.
Lạ một điều là chỉ thấy râu tóc,
Kêu than đã từ lâu.
Tự mình cắt cái búi tóc,
Mang ra chợ đổi lấy rượu.
Người trên thì nói rằng thiên hạ loạn lạc,
Cần đối xử tốt với bậc anh hào.
Nhắm tới một số ông nhìn lén,
Kinh luân đều đầy đủ.
Sau đó hỏi tới đám ít tuổi,
Thanh niên râu ria chừng mười tám mười chín.
Bọn các cháu như thế danh vang rồi,
Đều nhân đó mà nằm trong tay người này.
Kẻ dưới thì nói rằng gió mây gặp dịp,
Rồng hổ cùng hô chung một điệu.
Xin nguyện phát huy chí của bậc trượng phu,
Để gột bỏ cái uỷ mị của bọn đàn bà con gái.
Tần vương khi còn ở trên ngôi,
Không khí vui mừng lan khắp mọi nhà.
Kịp đầu đời Trinh Quán,
Vương Khuê được lên ghế ngồi.
Bà vợ thường ngồi trong kiệu,
Bước lên điện nhà vua để chúc tụng.
Trong sáu cung của nhà vua truyền dạy vẻ nhu thuần,
Các bà phi, bà hậu giữ phép tắc.
Nhà vua chia đều ân huệ cho cô dượng,
Việc tốt kéo dài mãi không phai.

Phượng non chưa đủ lông,
Năm sắc chẳng phải là bọn cháu.
Gần đây họ Hồ làm phản,
Đất trời sôi sùng sục.
Chú là thân khách ở nơi trông cậy,
Nhà cháu cùng bỏ chạy.
Chen nhau lếch thếch đi,
Phó mặc thân cho gai cỏ.
Lòng nôn nóng sôi sục trong bụng cháu,
Mười dặm cứ hét vang.
Tự bước xuống con ngựa đang cưỡi,
Tay phải nắm dao giắt nơi lưng.
Tay trái cầm dây cương đỏ kéo,
Khiến ngựa chạy lồng và nhấc bổng chú lên.
Cho đến ngày nay vẫn còn ngang tàng như thế,
Tấc lòng ghi mãi cái việc khó đó.
Loạn ly lại quây quần sau khi chia cách,
Chuyện cũ cứ tức anh ách.
Hoa dưới nước cười đầu bạc,
Cỏ xuân theo kẻ áo xanh.
Lời bàn luận trong triều đình cần chú trọng tới điểm chính,
Sắp xếp để thu hút các bậc nhân tài.
Về phía bắc ruổi ngựa tới trạm Hán Dương,
Nam dong thuyền nan chơi vùng chót sông Lang.
Tiếng nhà không chịu để rớt xuống đất,
Khí cụ sắc bén như sợi lông mùa thu.
Nơi phiên ngung người hiền đảm nhiệm lãnh đạo,
Tính toán thật là tuyệt diệu như thần.
Quan đại phu vốn xuất thân từ nhà nghèo,
Cái chính sách quý là không hút máu mủ của dân.
Các tù trưởng chịu uy xin hàng phục,
Sông biển có ngàn thuyền đi lại.
Ta muốn trở về với thuốc tiên,
Đi sông hoặc lội bộ mới thấy thân vất vả.
Làm sao có thể giam mình nơi đất bùn này,
Có chí mà cưỡi cá kình cá ngao.
Hoặc cưỡi con chim loan vút thẳng trời,
Ít ra cũng là con hạc kêu trên gò.

Bản dịch của Phạm Doanh

Bà cô của phủ này,
Cháu gọi là bà nội.
Bà nội khi còn nghèo,
Cùng thượng thư lễ cưới.
Khi đời Tuỳ suy vi,
Phòng, Đỗ cùng qua lại.
Lớn lên ở ngay nhà,
Kiếm ăn gặp năm đói.
Nhà nghèo chẳng có gì,
Thân khách cứ lới xới.
Sau đó quí trọng dần,
Vắng vẻ người đi khỏi.
Thấy lạ với tóc râu,
Lâu rồi từng tức tưởi
Búi tóc tự cắt phăng,
Ra chợ chén rượu đổi.
Đời loạn, theo bậc trên,
Hiền tài cần đối đãi.
Nhòm về một số ông,
Kinh luân đều sành sõi.
Sau hỏi đến trẻ trai,
Mười tám râu tóc rối.
Con em công danh thành,
Tay người này đều gửi.
Dưới nói hợp gió mây,
Rồng hổ cùng tiếng nói.
Xin tỏ chí trượng phu
Dứt được thói con gái.
Tần Vương khi trên đời
Mọi nhà đều sáng chói
Tới Trinh Quán năm đầu,
Thượng thư lên đài chọi.
Bà vợ thường theo xe,
Chúc mừng lên điện bái.
Sáu cung, nhu thuận truyền,
Phi hậu, phép tắc dõi.
Cô, dượng được vua chiều,
Việc tốt sẽ còn mãi.

Phượng non chưa đủ lông,
Các em sức chưa đủ.
Trước kia loạn giặc Hồ,
Đất nước thật tơi tả.
Chú nương tựa nhà người.
Nhà cháu chạy đôn đả.
Lếch thếch chen nhau đi,
Thân này phó gai cỏ.
Ruột cháu ứa sục sôi,
Mười dặm còn than thở.
Ngựa cưỡi nhảy khỏi yên,
Tay phải dao lưng gỡ.
Tay trái neo dây cương,
Chạy bay hất bổng tớ.
Tới giờ còn tính bừa,
Lòng này vẫn ghi nhớ.
Loan ly khi hợp tan,
Tức bừng bừng chuyện cũ.
Hoa nước chê bạc đầu,
Cỏ xuân theo áo nhỏ.
Triều đình điểm chính bàn,
Tập hợp người tài đủ.
Bắc trạm Hán Dương phi,
Nam thuyền sông Lang thả.
Tiếng nhà chẳng rụng rơi,
Sắc bén tựa tơ nhỏ.
Người hiền nhận phiên ngung,
Tính toán như thần độ.
Quan lớn gốc bình dân,
Bòn dân nên bãi bỏ.
Chúa động xin theo hàng,
Sông hồ trăm thuyền đỗ.
Ta muốn luyện thuốc tiên,
Lê lết thấy thân khổ.
Sao mãi nơi bùn dơ,
Có chí cưỡi lưng cá.
Hoặc bám loan vút trời,
Gò cao hạc đành ở.
(Năm 770)

[1] Chỉ Vương Khuê 王珪 tự Thúc Giới 叔玠 (570-639), người huyện Kỳ, Thái Nguyên. Cụ tổ Vương Tăng Biện 王僧辯 là danh tướng đời Tuỳ, tới đời Lương lại giữ chức thái uý, thượng thư lệnh, được phong tước Vĩnh Ninh quận công. Cha Vương Ký 王覬 từng giữ chức thái thú Nhạc Lăng thời Bắc Tề. Tuy nhiên thời nhỏ của Vương Khuê rất khốn khó vì cha chết sớm, được ông chú là Vương Pha 王頗 nuôi dưỡng tại Quan Trung. Vương Pha thời đó là một vị túc nho, nổi tiếng làu thông kinh điển, gây ảnh hưởng nhiều tới Vương Khuê. Năm 593, Vương Khuê được triệu tập để làm công tác hiệu đính, chỉnh lý cách sách mà nhà Tuỳ đã thu gom được ở bí thư tỉnh, sau đó ít lâu được bổ nhiệm làm Thái thường phụng trát lang. Tuy vậy năm 604 trong triều đình nhà Tuỳ có sảy ra biến cố ảnh hưởng tới ông về việc tranh ngôi vua của Tuỳ Dạng Đế Dương Quảng. Vương Pha bị giết, Vương Khuê cũng bị liên luỵ, chạy trốn về vùng núi Chung Nam, mai danh ẩn tích đến mười năm, giao du với Phòng Huyền Linh 房玄齡, Đỗ Như Hối 杜如晦. Năm 617, Lý Uyên 李淵 chiếm Trường An, xưng đại thừa tướng, tự phong mình là Đường Vương, nắm được thực quyền. Được quan tư lộc là Lý Cương làm việc ở thừa tướng phủ tiến dẫn, Vương Khuê tham chức với chức vụ tư nghị tham quân cho thế tử Lý Kiến Thành. Năm 618, Lý Uyên xưng đế ở Trường An, lập ra nhà Đường, nên Vương Khuê thêm chức Đông cung trung xá nhân. Dịp này Vương Khuê có kết giao với Nguỵ Trưng 魏徵 lập một tập đoàn hỗ trợ cho Lý Kiến Thành. Năm 624, vì âm mưu của thái tử Kiến Thành bị phát giác mà hậu quả là Vương Khuê bị đổi đi Tuỷ Châu (nay là Tây Xương, Tứ Xuyên). Năm 627, tháng sáu do biến cố Huyền Vũ môn, ông cũng được trọng dụng vì là bạn của Phòng Huyền Linh, được triệu về Trường An, giữ chức gián nghị đại phu, sau đó là Hoàng môn thị lang, phong tước Vĩnh Ninh huyện nam. Năm 628, Vương Khuê giữ chức thị trung, chính thức đảm nhiệm chức vụ tể tướng. Năm 633, tước phong quận công. Ông đề xuất nhiều việc liên quan tới việc trị nước, lễ nghi, đạo trung hiếu. Năm 637, hoàn thành sách Ngũ lễ 五禮. Năm 639 chết ở Trường An.
[2] Sử sách có ghi thuở Vương Khuê còn hàn vi có giao thiệp cùng với Đỗ Như Hối 杜如晦 và Phòng Huyền Linh 房玄龄. Mẹ ông ta thấy thế cuống lên, bày đầy rượu thịt mà hoan hỉ mời, nói rằng “Hai ông này là người giúp đỡ con đó, con phải đều quý trọng”.
[3] Tức Lý Thế Dân, tức Đường Thái Tông. Sách Đại Đường Tần vương từ thoại 大唐秦王詞話 có thuật việc Tần vương Lý Thế Dân xây dựng cơ nghiệp nhà Đường.
[4] Năm 627.
[5] An Lộc Sơn.
[6] Sông xuất phát từ Hồ Nam qua phía tây huyện Vũ rồi chảy vào tỉnh Quảng Đông hợp lưu với Đông Giang.
[7] Ông nội Vương Lệ, tức là dượng của Đỗ Phủ.
[8] Để vượt biển.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tống trùng biểu điệt Vương Lệ bình sự sứ Nam Hải