23/10/2021 13:17Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Côn Lôn nhi
崑崙兒

Tác giả: Trương Tịch - 張籍

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Trung Đường
Đăng bởi Mặc Am vào 25/02/2019 17:24

 

Nguyên tác

崑崙家住海中州,
蠻客將來漢地遊。
言語解教秦吉了,
波濤初過鬱林洲。
金環欲落曾穿耳,
螺髻長卷不裹頭。
自愛肌膚黑如漆,
行時半脫木綿裘。

Phiên âm

Côn Lôn gia trú hải trung châu,
Man khách tương lai Hán địa du.
Ngôn ngữ giải giáo Tần Cát Liễu[1],
Ba đào sơ quá Uất Lâm châu[2].
Kim hoàn dục lạc tằng xuyên nhĩ,
Loa kế trường quyến bất khoả đầu.
Tự ái cơ phu hắc như tất,
Hành thời bán thoát mộc miên cầu.

Bản dịch của Ngô Trần Trung Nghĩa

Côn Lôn nhà ở tận biển khơi
Man khách sắp sang đất Hán chơi
Ngôn ngữ dạy cho Tần Cát Liễu
Vượt qua làn sóng Uất Lâm rồi
Búi tóc tay dài không bao bọc
Khuyên vàng lấp lánh chực tuôn rơi
Yêu thay da dẻ người đen nhánh
Mỗi bước áo lông nửa tách rời
Côn Lôn là từ mà người Trung Quốc thời Đường dùng để gọi quần đảo Indonesia và bán đảo Malaysia. Phần Nam Man trong Cựu Đường thư chép: “Từ Lâm Ấp xuống phía Nam, người nào cũng tóc xoăn da đen, gọi chung là Côn Lôn”. Sách Bình Châu khả đàm của Chu Úc đời Bắc Tống cũng nói: “Nhà giàu có ở Quảng Trung nuôi dưỡng nhiều quỷ nô, sức lực kinh người, có thể mang gánh mấy trăm cân. Ngôn ngữ khác biệt, hôn thú bất đồng, tính tình thuần phác, không bỏ trốn, còn gọi là dã nhân, da đen như mực, môi đỏ răng trắng, tóc vàng và xoăn, có trai có gái, sinh trưởng tại núi non hải ngoại… Có một chủng dã nhân gần biển, xuống nước mắt không bị mờ, gọi là Côn Lôn nô.”
Nguồn: Lịch sử Trung Hoa: Giao lưu và giao thông, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2018
[1] Còn gọi là Liễu Ca hay Cát Liễu. Đây là một loài chim thuộc bộ Sẻ, có thể học được tiếng người. Do sinh trưởng ở đất Tần thuộc Thiểm Tây nên mới có tên Tần Cát Liễu.
[2] Nay là thành phố Ngọc Lâm thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Tịch » Côn Lôn nhi