15/04/2021 06:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đệ thập ngũ cảnh - Trạch nguyên tiêu lộc
第十五景-澤源哨鹿

Tác giả: Thiệu Trị hoàng đế - 紹治皇帝

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi YensidTim vào 10/11/2020 01:02

 

Nguyên tác

習勞肄武有何妨,
得失休嫌且學湯。
風度雲岩人響動,
霜痕獸徑馬蹄揚。
免傷禾穀擒麋鹿,
庶利樵蘇殺虎狼。
禮備鉶登供寢薦,
以時蒐狩戒禽荒。

Phiên âm

Tập lao dị vũ hữu hà phương,
Đắc thất hưu hiềm thả học Thang[1].
Phong độ vân nham nhân hưởng động,
Sương ngân thú kính mã đề dương.
Miễn thương hoà cốc cầm mi lộc,
Thứ lợi tiều tô sát hổ lang.
Lễ bị hình đăng[2] cung tẩm tiến,
Dĩ thời sưu thú[3] giới cầm hoang[4].

Dịch nghĩa

Làm quen với việc vất vả để học võ thì có gì là hại?
Chớ hiềm săn được hay không, phải nên học theo vua Thang.
Tiếng người nổi lên trong vùng núi chọc trời, gió lộng,
Vó ngựa phi trên những lối đi của thú còn đọng vết sương.
Bắt huơi nai để tránh hại cho lúa và ngũ cốc,
Giết cọp, chó sói giúp lợi ích nhiề cho người đốn củi, kiếm rác.
Chuẩn bị đầy đủ thức cúng dâng lên nơi tẩm điện,
Lấy những khi sưu thú để răn dạy đừng chìm đắm vào việc săn bắn.

Bản dịch của Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung

Ngại chi luyện võ chịu gian nan,
Được mất đầu cần chỉ học Thang.
Xao xác tiếng người vang đỉnh biếc,
Ruổi rong vó ngựa đọng đường quang.
Giúp mùa ngũ cốc bắt tuần lộc,
Lo cảnh tiều phu diệt hổ lang.
Đem lễ dâng lên nơi tẩm điện,
Mê săn chìm đắm việc sao đang.
Lời dẫn: “Tả Hữu trạch nguyên: Quần phong vạn nhận, cổ thụ thiên tầm. Giản tẩu thâm u tẩm bích hàm không sơn đại ấn, lâm ao nhược uất lạc hồng phì kính dã quang phù. Vân hồi bán thốc vô phong chi tàng điểu chỉ, lộ nhiễm huyền nhai tích thuỷ thảo trường thú phì. Chính kham xúc hưng ngu nhân, tín khả khiển nhàn giáo liệp.” 左右澤源:群峰萬仞,古樹千尋,澗藪深幽浸碧涵空山黛印,林坳蒻鬱落紅肥徑埜光浮,雲迴半簇無風枝藏鳥止,露染懸崖滴水草長獸肥,正堪促興虞人,信可遣閒校獵。(Nguồn Tả nguồn Hữu: Núi non vạn dặm, cổ thụ ngàn tầm. Vực đầm sâu kín bóng phủ xanh, trên không in hình núi biếc, rừng hốc um tùm hoa rụng đỏ, lối đi toả ánh đồng hoang. Mây chuyến trúc thưa lặng gió, chim ẩn trong cây, sương ngưng đỉnh thắm nước tuôn, cỏ tươi thú mập. Thật là kích hứng niềm vui, đúng nơi hướng nhàn tập bắn.)

Sông Hương có hai nguồn lớn là Tả Trạch và Hữu Trạch, hợp lưu tại ngã ba Bằng Lãng. Từ kinh thành nhìn lên, nguồn Tả Trạch nằm ở bên trái và Hữu Trạch ở bên tay phải. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Tả Trạch bắt nguồn từ Động Dài và khe Sơn Ba, chảy khuất khúc qua Điện Sơn. Biên Lộ và Phổ Giang 59 dặm. Đến Thác Thú, nguồn nước chuyển sang phía đông qua các khe và thác thêm 36 dặm mới đến ngã ba Bằng Lãng. Còn Hữu Trạch, bắt nguồn từ phía đông núi Chấn Sơn chảy quanh co qua nhiều rừng núi, có đến 14 ngọn thác rồi mới từ từ nhập vào ngã ba Bằng Lãng. Ngã ba Bằng Lãng còn có một tên gọi nữa là ngã ba Tuần. Sở dĩ có tên gọi này là do từ đầu thời Gia Long, triều Nguyễn đã đặt một Tuần Hộ Sở, gồm 3 đội, 27 người, đứng đầu là chức Thủ ngự để tuần phòng và thu thuế nguồn. Sang thời Minh Mạng, những vùng đất trống ở hai bên nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch đều đặt các đồn điền để khai khẩn đất đai và định cư dân chúng.

Tuy nhiên ở đây vẫn còn nhiều khe núi, đầm hồ chưa được khai phá và rừng phía thượng nguồn lại rậm rạp hoang vu. Đó là nơi thú rùng và chim chóc tụ tập sinh sôi vô cùng phong phú. Hàng năm, các vua nhà Nguyễn thường ngự thuyền rồng ngược sông Hương, sau khi thăm viếng lăng tẩm của tổ tiên thì lên các khu rừng đầu nguồn để săn bắn. Đây là bài thơ ra đời sau một chuyến vui thú săn bắn như vậy.

Nguồn: Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung, Thần kinh nhị thập cảnh - Thơ vua Thiệu Trị, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, NXB Thuận Hoá, 1997
[1] Theo Sú ký, đức của vua Thành Thang nhà Hạ rất lớn. Một hôm vua đi ngang cánh đồng thấy có người vây với bốn mặt và cầu khấn rằng: Trên trời, dưới đất, bốn phương đều sa vào lưới của ta. Nghe vậy, vua than rằng: Ôi như vậy thì còn gì nữa! Vừa mở ba mặt lưới và nói: Muốn bay sang trái thì sang trái, muốn bay sang phải thì sang phải, hết số mạng thì mới sự vàn lưới”. Các chư hầu nghe tin này, khen vua Thang nhân đức đến cả với loài cần thú. Vua Thiệu Trị lấy tích này đẻ răn dạy về đạo đức trong việc đi săn bắn.
[2] Hai đồ dùng để đựng thức cúng.
[3] Sưu là đi săn vào mùa xuân và thu. Thú là đi săn vào mùa hạ và đông.
[4] Kinh thư, thiên Ngũ Tử chi ca có ghi lời dạy của vua Đại Vũ: “Nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm hoang, cam tửu, thị âm, tuấn vũ điêu tường, hữu nhất vu thử, vị hoặc bất vong” (Làm vua mà trong cung đam mê sắc dục, ngoài ham mê săn bắn, thích rượu chè, ưa âm nhạc, chuộng nhà cao đẹp đẽ, phạm phải một trong các điều đó, chưa ai tránh được mất nước).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thiệu Trị hoàng đế » Đệ thập ngũ cảnh - Trạch nguyên tiêu lộc