17/11/2019 16:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lệ chi thán
荔枝嘆

Tác giả: Tô Thức - 蘇軾

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi hongha83 vào 03/06/2009 18:32

 

Nguyên tác

十里一置飛塵灰,
五里一堠兵火催。
顛坑仆谷相枕藉,
知是荔枝龍眼來。
飛車跨山鶻棋海,
風枝露業如新採。
宮中美人一破顏,
驚塵濺血流千載。
永元荔枝來交州,
天寶歲貢取之涪。
至今欲姇林甫肉,
無人舉觴酹伯遊。
我願天公憐赤子,
莫生尤物為瘡痏。
雨順風調百穀登,
民不饑寒為上瑞。
君不見:
武夷溪邊粟粒芽,
前丁後蔡相籠加。
爭新買寵出新意,
今年鬥品充官茶。
吾君所乏豈此物?
致養口體何陋耶!
洛陽相君忠孝家,
可憐亦進姚黃花。

Phiên âm

Thập lý nhất trí[1] phi trần hôi,
Ngũ lý nhất hậu[2] binh hoả thôi.
Điên khanh phó cốc tương chẩm tạ,
Tri thị lệ chi long nhãn lai.
Phi xa khoá sơn cốt[3] kỳ hải,
Phong chi lộ nghiệp như tân thái.
Cung trung mỹ nhân nhất phá nhan,
Kinh trần tiễn huyết lưu thiên tải.
Vĩnh Nguyên[4] lệ chi lai Giao Châu[5],
Thiên Bảo[6] tuế cống thủ chi Phù[7].
Chí kim dục thực Lâm Phủ[8] nhục,
Vô nhân cử trường lỗi Bá Du[9].
Ngã nguyện thiên công liên xích tử,
Mạc sinh vưu vật vi sang vị.
Vũ thuận phong điều bách cốc đăng,
Dân bất cơ hàn vi thượng thuỵ.
Quân bất kiến:
Vũ Di[10] khê biên túc lạp nha[11],
Tiền Đinh hậu Sái tương lung gia.
Tranh tân mãi sủng xuất tân ý,
Kim niên đấu phẩm sung quan trà.
Ngô quân sở phạp khởi thử vật?
Trí dưỡng khẩu thể hà lậu da!
Lạc Dương tướng quân[12] trung hiếu gia[13],
Khả liên diệc tiến diêu hoàng[14] hoa.

Dịch nghĩa

Mười dặm một trạm bụi bay mù mịt
Năm dặm một điếm giục gấp như binh lửa
Xác nằm chồng lên nhau ở khe rãnh
Đều do long nhãn và quả vải sinh ra
Xe vượt đèo núi, thuyền mang hình chim cốt đi ngoài biển
Cành lá qua gió sương phải giữ tươi như mới hái
Một nụ cười của người đẹp trong cung
Thì máu trộn với bùn chảy hàng nghìn năm nay
Năm Vĩnh Nguyên lấy vải ở Giao Châu
Năm Thiên Bảo, lệ cống vải hằng năm lấy từ đất Phù
Đến nay vẫn còn muốn ăn thịt Lâm phủ
Không ai nâng chén rượu tưới cho Bá Du
Ta mong trời thương lấy con đỏ
Đừng sinh ra của lạ, gây nên ung nhọt
Gió hoà mưa thuận mùa màng tốt tươi
Dân không đói rét là điều tốt lành hơn cả
Bác không thấy:
Bên khe Vũ Di, mầm trà như hạt thóc
Trước Đinh sau Thái cùng thêm lồng
Đem dâng vật phẩm mới để lấy lòng vua
Năm nay lại chọn thứ ngon để làm trà nhà quan
Cái vua ta thiếu đâu phải thứ này
Nuôi vua sao lại xoàng xĩnh vậy
Quan Lạc Dương cũng là nhà trung hiếu
Thương thay cũng dâng hoa diêu hoàng

Bản dịch (của Bản dịch của Hoàng Tạo)

Mười dặm một trạm chạy tung bụi
Năm dặm một chòi lính giục vội
Ngã hang, sa hố, chết chồng nhau
Để cho vải quý được mang tới
Như cắt qua khơi, xe vượt núi
Lá mượt cành tươi tuồng mới hái
Người đẹp trong cung một tiếng cười
Nghìn năm máu, bụi còn tung mãi
Vĩnh Nguyên vải tiến từ Giao Châu
Thiên Bảo vải cống từ đất Phầu
Đời muốn ăn thịt Lý Lâm Phủ
Chưa ai tưới rượu mồ Bá Du
Khấn trời hãy thương lũ con đỏ
Đừng sinh vật hiếm thêm đau khổ
Mưa hoà gió thuận được mùa luôn
Đói không, rét không, phúc lớn đó
Chẳng thấy sao
Bên khe Vũ Di chè mầm thóc
Hết Đinh lại Thái đến thu róc
Chuốc dùng thứ lạ mong vua yêu
Năm nay chè thi lại nộp gấp
Nhà vua đâu phải hiếm đồ sang
Thức ăn thức uống đâu mà xoàng
Ông tướng Lạc Dương dòng trung hiếu
Buồn thay cũng tiến hoa Diêu Hoàng
Nguồn: Thơ Tống, Trương Chính giới thiệu, Nam Trân duyệt thơ, NXB Văn học, 1991
[1, 2] Trí, hậu: dịch trạm ngày xưa, năm dặm làm một hậu, mười dặm làm hai hậu, gọi là một trí. Câu này nói lên tình cảnh gấp như lửa của việc vận tống vải, một khắc không được chậm.
[3] Thuyền ngoài biển, nguyên văn là “cốt hoành hải”. Chiến thuyền ngày xưa khắc hình chim này để làm trang trí.
[4] Niên hiệu của Hoà đế nhà Hán Lưu Triệu (89-105).
[5] Bắc Việt Nam ngày nay.
[6] Niên hiệu của Huyền Tông Lý Long Cơ nhà Đường (742-756).
[7] Là Phù Lăng, Tứ Xuyên ngày nay, ở đây chỉ chung Ba Thục.
[8] Tức Lý Lâm Phủ, tể tướng của Đường Huyền Tông, nổi tiếng quyền gian.
[9] Tên chữ của Đường Khương làm quan huyện Lâm Vũ (nay thuộc Hồ Nam) thời Hán Hoà Đế, ông từng dâng thư kiến nghị bỏ việc bắt cống quả vải.
[10] Tức khe Vũ Di. Đất vùng này sản ra loại chè có tiếng.
[11] Tên trà, khi tươi, mầm còn nhỏ như hạt thóc đã hái.
[] Đinh là Đinh Vị, tự Vị Chi, tể tướng thời Tống Chân Tông, được phong Tấn quốc công, nổi tiếng nịnh hót làm càn. Thái, tức Thái Tương, tự Quân Mô, đỗ tiến sĩ năm đầu Tống Nhân Tông, một chuyên gia nghề chè, từng viết Trà lục. Sau câu này tác giả tự chú: “Sọt trà lớn nhỏ bắt đầu từ Đinh Tấn Công, tiếp đến Thái Quân Mô. Âu Dương Vĩnh Thúc nghe nói Quân Mô dâng long đoàn nhỏ, lấy làm lạ than rằng: “Quân Mô là một kẻ sĩ, sao đến nỗi làm việc ấy!” Đời Tống đem lá chè ép thành bánh, trên hình in long phượng, nê có tên là Long đoàn, Phượng đoàn.
[12] Tức Tiền Duy Diễn, con của Ngô Việt Vương Tiền Thúc,một trong các nhà thở thể Tây Côn, đầu Tống làm lưu thư Lạc dương.
[13] Tiền Thúc không chống nhau với Tống. Sau khi chết được Tống Thái Tôn đánh giá là “Dùng trung hiếu mà giữ được xã tắc.
[14] Tên một loại hoa mẫu đơn to và đẹp. Tiền Duy Diễn từng gọi hoa mẫu đơn là hoa vương, còn diêu hoàng lại là hoa vương của hoa mẫu đơn. Câu này, sau tác giả tự chú: “Lạc Dương cống hoa bắt đầu từ Tiền Duy Diễn”. Trong Cừu trì bút ký Tô Thức ghi: “Tiền Duy Diễn làm lưu thư Tây Kinh, bắt đầu làm trạm cống hoa Lạc Dương, bậc thức giả lấy làm khinh, đó là ý của thiếp yêu trong cung vua”.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tô Thức » Lệ chi thán