04/08/2021 15:40Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tương thích Ngô Sở, lưu biệt Chương sứ quân lưu hậu kiêm mạc phủ chư công, đắc liễu tự
將適吳楚,留別章使君留後兼幕府諸公,得柳字

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 04/03/2014 21:09

 

Nguyên tác

我來入蜀門,
歲月亦已久。
豈惟長兒童,
自覺成老醜。
常恐性坦率,
失身為杯酒。
近辭痛飲徒,
折節萬夫後。
昔如縱壑魚,
今如喪家狗。
既無遊方戀,
行止復何有。
相逢半新故,
取別隨薄厚。
不意青草湖,
扁舟落吾手。
眷眷章梓州,
開筵俯高柳。
樓前出騎馬,
帳下羅賓友。
健兒簸紅旗,
此樂或難朽。
日車隱昆侖,
鳥雀噪戶牖。
波濤未足畏,
三峽徒雷吼。
所憂盜賊多,
重見衣冠走。
中原消息斷,
黃屋今安否。
終作適荊蠻,
安排用莊叟。
隨雲拜東皇,
掛席上南斗。
有使即寄書,
無使長回首。

Phiên âm

Ngã lai nhập Thục môn,
Tuế nguyệt diệc dĩ cửu.
Khởi duy trường nhi đồng,
Tự giác thành lão xú.
Thường khủng tính thản suất,
Thất thân vị bôi tửu.
Cận từ thống ẩm đồ,
Chiết tiết vạn phu hậu.
Tích như túng hác ngư,
Kim như tang gia cẩu[1].
Ký vô du phương luyến,
Hành chỉ phục hà hữu.
Tương phùng bán tân cố,
Thủ biệt tuỳ bạc hậu.
Bất ý Thanh Thảo Hồ,
Biển chu lạc ngô thủ.
Quyến quyến Chương tử châu,
Khai diên phủ cao liễu.
Lâu tiền xuất kỵ mã,
Trướng hạ la tân hữu.
Kiện nhi bá hồng kỳ,
Thử lạc hoặc nan hủ.
Nhật xa ẩn Côn Lôn,
Điểu tước táo hộ dũ.
Ba đào vị túc uý,
Tam Giáp[2] đồ lôi hống.
Sở ưu đạo tặc đa,
Trùng kiến y quan tẩu.
Trung Nguyên tiêu tức đoạn,
Hoàng ốc kim an phủ.
Chung tác thích kinh man,
An bài dụng trang tẩu.
Tuỳ vân bái Đông hoàng[3],
Quải tịch thướng Nam Đẩu[4].
Hữu sứ tức ký thư,
Vô sứ trường hồi thủ.

Dịch nghĩa

Tôi từ thuở vào đất Thục,
Ngày tháng đã nhiều rồi.
Đâu có phải chỉ nuôi lớn đàn con,
Mà còn tự thấy mình thành ông già.
Thường ngại tính mình thẳng thắn,
Lỡ thân sa vào chén rượu.
Gần đây xa lũ say sưa,
Theo sau vạn kẻ có tính khiêm nhường.
Xưa như đàn cá nơi suối,
Giờ là chó nhà có tang.
Đã không có nơi để luyến tiếc,
Đi hay ở có hề chi.
Gặp nhau nửa cũ, nửa mới,
Nhớ hay quên tuỳ đối sử hậu hĩ hay bạc bẽo.
Bất ngờ nơi hồ Thanh Thảo,
Thuyền nhỏ lạc tay lái.
Bịn rịn có ông họ Chương ở Tử Châu,
Mở tiệc dưới bụi liễu cao.
Trước lầu có đội ngựa,
Dưới trướng đầy bạn bè.
Lực sĩ phất cờ đỏ,
Cuộc vui này khó mà quên được.
Mặt trời ẩn sau Côn Lôn cảnh tiên,
Chim chóc ríu rít bên cửa sổ.
Sóng không đủ gây sợ hãi,
Sấm vang vùng Tam Giáp.
Cái lo là có lắm giặc,
Lại thấy bọn quan bỏ chạy.
Tin tức từ trung nguyên bị cắt đứt,
Gia đình vua không biết giờ có yên không?
Cuối cùng tôi về vùng Kinh man rợ,
Để an phận già với trẻ.
Theo mây đi lễ vua Đông,
Đem chiếu lên bái sao nam.
Có người thì sẽ gửi thư này,
Nếu không thì cứ quay cổ mà ngóng.

Bản dịch của Nhượng Tống

Vào ải Thục đã lâu biết mấy
Mình già đi, con thấy lớn lên
Chỉn e chân thật thói quen
Chén chè, chén rượu xui nên hư đời
Bạn say cũ rầy thôi xa hết
Sau muôn người thìn nết, tới lui
Xưa như cá thả sông ngoài
Giờ như thân chó hoả tai khác gì
Ở cũng được, đi thì cũng được
Đâu mà không đất nước quê người!
Người quen mới, cũ chia đôi
Cho nhiều, cho ít cũng thời xin vâng
Hồ Thanh Thảo bỗng rưng nào tưởng
Sa vào tay này mảng thuyền bồng
Quan Chương Lưu Hậu có lòng
Tiệc bày nhìn xuống giữa vùng liễu cao
Xe ngựa chực trước lầu sắp rạng
Khách quan đều dưới trướng họp đông
Kiện nhi múa ngọn cờ hồng
Vui này có lẽ nhớ trong một đời
Ngàn Tây, bóng mặt trời đã xế
Ngoài song, đàn di sẻ kêu vang
Đường sông sóng gió chi thường
Sấm reo ba thác xem tuồng doạ ai?
Chỉ lo nỗi đầy nơi giặc rậy
Tụi áo xiêm lại thấy chạy dài
Trung Nguyên vắng bặt tăm hơi
Nhà vàng chẳng biết nay thời ra sao?
Mặc số phận tìm vào đất Sở
Qua Đẩu Nam thăm thử vua đông
Tiện người xin gửi thư cùng
Gió mây đừng để nóng lòng đợi tin!
(Năm 763)

Chương lưu hậu tức quan lưu hậu Chương Di 章彝, làm thứ sử, giữ Đông Châu tiết độ sứ.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Có vẻ bất đắc chí, chữ lấy từ Sử ký của Tư Mã Thiên. Khổng Tử đi sang nước Trịnh, lạc khỏi đám học trò, một mình đứng bên cửa đông. Người nước Trịnh có tới hỏi Tử Cống: “Cửa đông có một người, có trán giống vua Nghiêu, cái cổ giống ông Cao Dao, vai hệt ông Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém ông Vũ tới ba tấc. Điệu bộ rầu rầu như con chó của nhà đang có đám tang (luy luy nhược tang gia chi cẩu 累累若丧家之狗).” Tử Cống thuật lại cho Khổng Tử, ông vui vẻ cười nói: “Tả hình dáng thì ta đâu có được như vậy. Nhưng nói rằng giống con chó của nhà đang có đám tang thì đúng lắm, đúng lắm!” (Hình trạng, mạt dã. Nhi vị tự tang gia chi cẩu, nhiên tai, nhiên tai! 形状,末也。而 謂似喪家之狗,然 哉!然哉).
[2] Xuất phát từ thành Bạch Đế, huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên, đi về đông tới cửa Nam Tân, huyện Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, dài 204km dọc theo sông Trường Giang có ba kẽm (nơi lòng sông thu hẹp và hai bên có núi) gồm Cù Đường giáp (từ thành Bạch Đế tới cửa sông Đại Ninh, huyện Vu Sơn), Vu giáp (từ cửa sông Đại Ninh tới cửa Quan Độ ở Ba Đông, là kẽm dài nhất) và Tây Lăng giáp. Cù Đường giáp có các thắng cảnh thác Diễm Dự, thành Bạch Đế, Bát trận đồ, Phong Sương giáp, nằm trong phạm vi Quỳ Châu. Vu giáp có núi Vu, đỉnh Thần Nữ, khe Thần Nông, thuộc vùng Ba Đông. Tây Lăng giáp có thác Không Linh, Hoàng Lăng miếu, Hoàng Ngưu giáp, trước khi tới Nghi Xương rồi vào hồ Động Đình.
[3] Đền vua Đông ở đất Sở.
[4] Ứng vào địa phận đất Ngô.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tương thích Ngô Sở, lưu biệt Chương sứ quân lưu hậu kiêm mạc phủ chư công, đắc liễu tự