02/12/2020 01:13Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ai giang đầu
哀江頭

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 13/06/2005 12:05

 

Nguyên tác

少陵野老吞聲哭,
春日潛行曲江曲。
江頭宮殿鎖千門,
細柳新蒲為誰綠。
憶昔霓旌下南苑,
苑中萬物生顏色。
昭陽殿裡第一人,
同輦隨君侍君側。
輦前才人帶弓箭,
白馬嚼嚙黃金勒。
翻身向天仰射雲,
一笑正墜雙飛翼。
明眸皓齒今何在,
血污遊魂歸不得,
清渭東流劍閣深,
去住彼此無消息。
人生有情淚沾臆,
江水江花豈終極。
黃昏胡騎塵滿城,
欲往城南望城北。

Phiên âm

Thiếu Lăng dã lão[1] thôn thanh khốc,
Xuân nhật tiềm hành Khúc giang[2] khúc.
Giang đầu cung điện toả thiên môn,
Tế liễu tân bồ vị thuỳ lục?
Ức tích nghê tinh há nam uyển,
Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc.
Chiêu Dương[3] điện lý đệ nhất nhân,
Đồng liễn tuỳ quân tại quân trắc.
Liễn tiền tài nhân đới cung tiễn,
Bạch mã tước nghiệt hoàng kim lặc.
Phiên thân hướng thiên ngưỡng xạ vân,
Nhất tiếu[4] chính truỵ song phi dực[5].
Minh mâu hạo xỉ kim hà tại?
Huyết ô du hồn quy bất đắc.
Thanh Vị đông lưu, Kiếm Các thâm,
Khứ trú bỉ thử[6] vô tiêu tức.
Nhân sinh hữu tình lệ triêm ức,
Giang thuỷ giang hoa khởi chung cực.
Hoàng hôn Hồ kỵ trần mãn thành,
Dục vãng thành nam vọng thành bắc.

Dịch nghĩa

Ông già nhà quê Thiếu Lăng nén tiếng khóc nghẹn ngào
Ngày xuân, lẻn đi trên khuỷu sông Khúc Giang
Hàng nghìn cửa cung điện ở bên sông đều im ỉm khoá
Cây liễu xinh, khóm bồ non, vì ai mà xanh tươi?
Nhớ khi xưa, cờ bảy sắc trẩy xuống vườn ngự uyển phía nam
Cảnh vật trong vườn đều tưng bừng tươi thắm
Người bậc nhất trong cung Chiêu Dương
Được ngồi cùng xe với vua, theo hầu bên cạnh vua
Trước xe là các nữ quan đeo cung tên
Ngựa bạch ngậm chặt chiếc hàm thiếc bằng vàng
(Nữ quan) xoay mình, ngước nhìn trời, nhắm bắn lên mây
Một nụ cười đã rơi cả đôi chim đang bay sát cánh
(Người đẹp) mắt trong sáng, răng trắng bóng, bây giờ ở đâu?
Hồn bơ vơ vấy máu không nơi về được
Nước sông Vị trong xanh chảy về đông, hang núi Kiếm Các thăm thẳm
Kẻ đi người ở, như thế là tăm hơi vắng bặt
Người đời có tình cảm, lệ chảy ướt ngực
Nước sông và hoa cỏ bên sông há đều đau buồn cùng cực
Dưới bóng hoàng hôn, quân Hồ cưỡi ngựa tung bụi đầy thành
(Khiến mình mê man) định đi tới phía nam thành lại hướng về phía bắc!

Bản dịch của Hoàng Tạo, Nam Trân

Ông già Thiếu Lăng nghẹn ngào khóc,
Ngày xuân thui thủi khúc sông Khúc.
Bên sông cung điện khoá nơi nơi,
Bồ liễu vì ai khoe thắm lục?
Nhớ thuở bóng cờ xuống vườn nam,
Vườn nam cảnh vật bừng sắc hương!
Trong điện Chiêu Dương người bậc nhất,
Cùng xe ngồi cạnh đức quân vương.
Trước xe thể nữ đeo cung tên,
Ngựa bạch ngậm chiếc nhàm hoàng kim,
Né mình nhìn trời nhằm mây bắn,
Một nụ cười rơi cả đôi chim.
Mặt ngọc răng ngà vắng bấy lâu,
Máu hoen hồn lạc biết về đâu!
Vị Thuỷ xuôi đông, Kiếm Các vắng,
Khuất, còn, vắng bặt tăm hơi nhau!
Việc đời nghĩ lại lệ ướt ngực,
Hoa, nước trên sông... đâu cùng cực?
Ngựa Hồ về tối, bụi đầy thành,
Ta muốn về nam, hoá sang bắc!
(Năm 757)

Khi quân An Sử chiếm Trường An (756) Minh Hoàng di tản vào đất Thục giao việc phục quốc cho con trai là Lý Hanh (Túc Tông), Đỗ Phủ đưa gia quyến về Phu Châu rồi một mình đi Linh Vũ theo Túc Tông. Giữa đường ông bị quân An Sử bắt giải về Trường An nên có dịp chứng kiến cảnh hoang tàn của thủ đô bèn viết bài này để ai điếu.

[1] Tức Đỗ Phủ. Thiếu Lăng vốn là tên lăng mộ của Hứa hậu xây ở khu vườn kề Đỗ Lăng của Hán Tuyên Đế. Nhà Đỗ Phủ ở cạnh đó nên mượn tên Thiếu Lăng làm hiệu.
[2] Sông Khúc ở phía đông Trường An. Dòng sông uốn lượn quanh co gợi cho Đỗ Phủ liên tưởng cuộc đời nhiều bước ngoặc của Dương Quý Phi.
[3] Triệu Phi Yến, người bậc nhất trong cung Chiêu Dương nhà Hán. Ở đây mượn để chỉ Dương Quý Phi.
[4] Có bản chép là “nhất tiễn” 一箭 hoặc “nhất phát” 一發.
[5] Cảnh phô tài khá ấn tượng của đoàn nữ quan. Ở đây Đỗ Phủ ngầm dự báo hồi kết của mối tình hận vương giả nọ. Họ vốn đã thề ước bên nhau trọn đời “trên trời làm chim liền cánh, dưới đất làm cây liền cành.“
[6] Kẻ đi người ở, ý nói Dương Quý Phi bị thắt cổ chết ở Mã Ngôi, còn Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Ai giang đầu