02/12/2020 19:24Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kẻ sĩ

Tác giả: Nguyễn Công Trứ - 阮公著

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 30/06/2005 23:38

 

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.[1]
Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
Từ Chu, Hán, vốn sĩ này là quý.
Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị,
Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường.
Khí hạo nhiên chí đại chí cương,
So chính khí đã đầy trong trời đất.
Lúc vị ngộ, hối tàng nơi bồng tất,
Hiêu hiêu nhiên điếu Vị[2], canh Sằn[3].
Xe bồ luân[4] dù chưa gặp Thang[5], Văn[6],
Phù thế giáo[7] một vài câu thanh nghị[8].
Cầm chính đạo để tịch tà cự bí[9],
Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên[10].
Rồng mây khi gặp hội ưa duyên,
Mang quách cả sở tồn làm sở dụng.
Trong lang miếu[11] ra tài lương đống,
Ngoài biên thuỳ rạch mũi Can Tương[12].
Làm sao cho bách thế lưu phương,
Trước là sĩ, sau là khanh tướng.
Kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung,
Vũ trụ chi gian giai phận sự, nam nhi đáo thử thị hào hùng.[13]
Nước nhà yên mà sĩ được thung dung,
Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch[14].
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch,
Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn.
Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đờn,
Đồ thích chí chất đầy trong một túi.
Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi tới,
Gẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh.
Này này sĩ mới hoàn danh.
Nguồn:
1. Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951
2. Nam Phong tạp chí, số 132, tháng 8-1928
[1] Chữ Hán: 爵有五士居其列,民有四士為之先. Nghĩa: Tước có năm bậc (thượng đại phu khanh, hạ đại phu, thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ), sĩ cũng dự vào; Dân có bốn loại (sĩ, nông, công, thương), sĩ đứng đầu.
[2] Điển tích Lã Vọng xưa ngồi câu cá bên bờ sông Vị.
[3] Điển tích Y Doãn xưa kia làm ruộng ở đất Sằn.
[4] Xe nhà vua dùng để rước người hiền tài giúp nước
[5] Tức vua Thang, người đã đón Y Doãn về phò tá và lập ra nhà Thương.
[6] Tức vua Văn Vương, người đã đón Lã Vọng về phò tá và lập ra nhà Chu.
[7] Giúp cho đạo giáo của đời.
[8] Lời bàn bạc khen kẻ hay, chê kẻ dở.
[9] Trừ những điều gian tà, ngăn những điều bất chính.
[10] Chữ Hán: 迴狂瀾而障百川. Nghĩa: Ngăn sóng dữ mà giữ các dòng sông.
[11] Nói chung đền đài nhà vua, ở đây ý nói làm quan ở kinh đô.
[12] Tên thanh gươm báu của vua Hạp Lư nước Ngô, ở đây chỉ chung binh khí.
[13] Chữ Hán: 經綸起心上,兵甲藏胸中,宇宙之間皆分事,男兒到此是豪雄. Ý nói làm trai vừa có tài để trị nước, vừa có võ để dẹp yên giặc, trong khoảng trời đất đều là phận sự của mình, nam nhi đến thế mới hào hùng.
[14] Tức Hoàng Thạch công, một ẩn sĩ. Trương Lương cuối đời Tần đi chơi đất Hạ Bì đến Dĩ Kiều gặp ông già (Hoàng Thạch công) trao cho quyển Binh thư tam lược để bình thiên hạ, rồi dặn sau 13 năm đến núi Cốc gặp hòn đá vàng chính là ông ấy. Trương Lương là tướng của Lưu Bang bình thiên hạ lập nhà Hán.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Công Trứ » Kẻ sĩ