05/03/2021 02:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kim Lăng tạp cảm
金陵雜感

Tác giả: Dư Hoài - 餘懷

Thể thơ: Đường luật biến thể; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thanh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 21/03/2019 23:45

 

Nguyên tác

六朝佳麗晚煙浮,
擘阮彈箏上酒樓。
小扇畫鸞乘霧去,
輕帆帶雨入江流。
山中夢冷依弘景,
湖畔歌殘倚莫愁。
吳殿金釵梁院鼓,
楊花燕子共悠悠。

Phiên âm

Lục triều giai lệ vãn yên phù,
Phách[1] Nguyễn đàn tranh[2] thướng tửu lâu.
Tiểu phiến[3] hoạ loan[4] thừa vũ khứ,
Khinh phàm đái vũ nhập giang lưu.
Sơn trung mộng lãnh y Hoằng Cảnh[5],
Hồ bạn ca sầu ỷ Mạc Sầu[6].
Ngô điện kim thoa[7] Lương viện cổ,
Dương hoa yến tử[8] cộng du du.

Dịch nghĩa

Lục triều xinh đẹp khói chiều bốc cao
Gẩy đàn Nguyễn bước lên lầu rượu
Người đẹp trên thuyền sặc sỡ lướt vào nơi mù buông
Buồm nhẹ mưa bay xuôi ngược trên sông
Mộng lạnh trong núi theo Hoằng Cảnh
Ca tàn ghé vào bờ hồ Mạc Sầu
Thoa vàng điện Ngô trống thời Lương
Hoa dương và chim én cùng bay

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Lục triều đẹp chiều lồng mây khói
Lầu rượu lên đàn nổi cung thương
Thuyền hoa người đẹp mù buông
Mưa bay buồm nhẹ theo dòng ngược xuôi
Mơ núi lạnh theo đòi Hoằng Cảnh
Bờ Mạc Sầu thân lánh ca xong
Điện Ngô thoa ngọc trống Lương
Vẫn là chim én hoa dương dập dìu
Kim Lăng nay là Nam Kinh, cố đô của Lục triều là Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần.

[1] Vốn chỉ ngón tay cái, ở đây là động từ, nghĩa là gẩy đàn.
[2] Nguyễn là tên một nhạc khí cổ, tương truyền Nguyễn Hàm thời Tây Tấn chơi nhạc khí này hay, cho nên đàn có tên là Nguyễn Hàm, gọi tắt là đàn Nguyễn.
[3] Chỉ quạt của thiếu nữ dùng, ở đây dùng để chỉ người đẹp.
[4] Chỉ con thuyền trang sức sặc sỡ.
[5] Đào Hoằng Cảnh người Tề Lương, Nam triều, làm quan nước Tề, sang Lương ẩn cư ở núi Cú Khúc phía đông Nam Kinh.
[6] Hồ Mạc Sầu ở Nam Kinh.
[7] Chỉ người đẹp.
[8] Hoa dương và chim én vẫn nhởn nhơ bay, cảnh vật hầu như cũ, song lòng của tác giả tràn ngập nỗi buồn thương, với tấm lòng nhớ nước cũ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Dư Hoài » Kim Lăng tạp cảm