06/03/2021 02:50Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tô Vũ miếu
蘇武廟

Tác giả: Ôn Đình Quân - 溫庭筠

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Vãn Đường
Đăng bởi hongha83 vào 16/10/2008 00:53

 

Nguyên tác

蘇武魂銷漢使前,
古祠高樹兩茫然。
雲邊雁斷胡天月,
隴上羊歸塞草煙。
回日樓臺非甲帳,
去時冠劍是丁年。
茂陵不見封侯印,
空向秋波哭逝川。

Phiên âm

Tô Vũ hồn tiêu hán sứ tiền,
Cổ từ cao thụ lưỡng mang nhiên.
Vân biên nhạn đoạn hồ thiên nguyệt,
Lũng thượng dương quy tái thảo yên.
Hồi nhật lâu đài phi giáp trướng[1],
Khứ thì quan kiếm thị đinh niên.
Mậu Lăng[2] bất kiến phong hầu ấn,
Không hướng thu ba khốc thệ xuyên.

Dịch nghĩa

Tô Vũ (xem) tính mạng đã mất trước khi đi làm sứ thần nhà Hán
Đền cổ và cây cổ thụ cao đứng man mác hai bên
(Năm xưa) ở bên trời mây nhạn không bay đến được chỉ thấy trời trăng nước hồ
Chỉ thấy trên gò dê về chuồng, cỏ và sương khói miền biên tái
Lúc trở về lại lâu đài không còn như xưa (vua đã băng hà)
Lúc đi thì mũ đội kiếm đeo người còn tráng niên
Không thấy ấn phong hầu ở Mậu Lăng
Trơ trơ nhìn sóng mùa thu khóc thương cho dòng nước chảy mất rồi

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Tô Vũ hồn tan Hán sứ xưa
Cây cao đền cũ thẳm trời xa
Bờ mây nhạn dứt trăng Hồ sáng
Lũng nọ dê về khói ải thưa
Về nước lâu đài đâu trướng phủ
Ra đi mũ kiếm thuở hào hoa
Mậu Lăng chẳng thấy phong hầu ấn
Trước sóng trời thu khóc nước thu
Tô Vũ tự Tử Khanh, đầu năm Đại Hán thời Hán Vũ Đế, làm trung lang tướng cầm tiết đi sứ Thiền Vu, bị giam. Sau bị đày đi Vũ bắc hải chăn dê. Xuân năm Thuỷ Nguyên thứ 6, về kinh sư làm Điển thuộc quốc.

Nguồn: 300 bài thơ Đường, Ngô Văn Phú dịch, NXB Văn học, 2008
[1] Thời Hán Vũ Đế, làm lều giáp ất, nói là lấy giáp ất, thứ tự đặt tên. "Phi giáp trướng" chỉ ta thán lâu đài đổi thay.
[2] Tên đất. Hán Vũ Đế dời hào kiệt các quốc quận về Mậu Lăng, giờ phía đông bắc huyện Hưng Bình, tỉnh Thiểm Tây.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Ôn Đình Quân » Tô Vũ miếu