06/04/2020 04:50Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hồi 02

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Lục bát; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 30/06/2005 11:07

 

Tảo mộ viếng Đạm Tiên, bâng khuâng tình tứ,
Du xuân gặp Kim Trọng, bẽn lẽn duyên ta.
(Câu 39-170)


Ngày xuân con én đưa thoi[1],
40. Thiều quang[2] chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh[3], trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ[4], hội là đạp thanh[5].
45. Gần xa nô nức yến anh[6],
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước[7], áo quần như nêm[8].
Ngổn ngang gò đống kéo lên[9],
50. Thoi vàng vó[10] rắc, tro tiền giấy bay

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê[11],
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
55. Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đường,
Dầu dầu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh,
Rằng: Sao trong tiết Thanh minh,
60. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi[12]
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài của, hiếm gì yến anh.
65. Phận hồng nhan[13] có mong manh,
Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương[14]
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi
Thuyền tình vừa ghé đến nơi,
70. Thì đà trâm gãy bình rơi[15] bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa[16] đã rêu lờ mờ xanh
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy[17] là mình với ta.
75. Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử, xe châu[18],
Vùi nông một nấm, mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà[19],
80. Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!

Lòng đâu sẵn món thương tâm
Thoạt nghe Kiều đã đầm đầm châu[20] sa:
Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85. Phũ phàng chi bấy Hoá công[21]!
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay! Thác xuống làm ma không chồng!
Nào người phượng[22] chạ, loan[23] chung,
90. Nào người tiếc lục tham hồng[24] là ai?
Đã không kẻ đoái, người hoài,
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Hoạ là người dưới suối vàng[25] biết cho.

95. Lâm râm khấn khứa nhỏ to
Sụp ngồi, vài gật trước mồ, bước ra.
Một vùng cỏ áy[26] bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một và bông lau.
Rút trâm sẵn dắt mái đầu
100. Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê mẩn tâm thần,
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra
Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn đứt nối, chân sa vắn dài!

105. Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt, khóc người đời xưa!
Rằng: Hồng nhan tự nghìn xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
110. Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?
Quan rằng: Chị nói hay sao,
Mỗi lời là một vận vào[27] khó nghe!
Ở đây âm khí[28] nặng nề,
Bóng chiều đã ngã, dậm về còn xa.
115. Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
Thác là thể[29] phách[30], còn là tinh anh
Dễ hay tình lại gặp tình,
Chờ xem, ắt thấy hiển linh[31] bây giờ.

Một lời nói chửa kịp thưa,
120. Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay,
Ào ào đổ lộc, rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiều
Dè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành
125. Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành[32] chẳng xa
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển[33], mới là chị em.
Đã lòng hiển hiện cho xem,
130. Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời
Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây, lại vạch một bài cổ thi.

Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu[34], bước lần dặm băng[35].
Đề huề lưng túi gió trăng[36],
Sau lưng theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu[37] dòn,
140. Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình[38]
Hài văn[39] lần bước dặm xanh[40],
Một vùng như thể cây quỳnh, cành giao[41]
145. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều[42] e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh[43].
Nền phú hậu[44], bậc tài danh,
150. Văn chương nết đất[45], thông minh tính trời
Phong tư[46] tài mạo[47] tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa[48]

Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân[49].
155. Trộm nghe thơm nức hương lân[50],
Một nền Đồng Tước[51] khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu[52],
Những là trộm dấu, thầm yêu chốc mòng[53].
May thay giải cấu tương phùng[54],
160. Gặp tuần đố lá[55] thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng[56] nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc[57], mặn mà cả hai

Người quốc sắc[58], kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165. Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn[59] khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo
Dưới dòng nước chảy trong veo,
170. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
[1] Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.
[2] Ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba.
[3] Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.
[4] Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.
[5] Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội thanh minh là hội đạp thanh.
[6] Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộng ràng đi chơi xuân.
[7] Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.
[8] Ý nói người đông đúc, chen chúc.
[9] Những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi gò đống.
[10] Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội.
[11] Ngòi nước nhỏ.
[12] Con hát.
[13] Má hồng, chỉ người đẹp.
[14] Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.
[15] Ý nói người đẹp đã chết.
[16] Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời trước đấy.
[17] Biết bao nhiêu.
[18] Nếp tử, xe châu: quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. Ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.
[19] Thỏ bạc, ác vàng: người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.
[20] Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.
[21] Thợ tạo hoá, tức là trời.
[22, 23] Phượng: chim phượng trống; loan: chim phượng mái. Trong văn cổ, loan phương dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. Ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm Tiên ngày trước.
[24] Ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.
[25] Do chữ Hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.
[26] Vàng úa.
[27] Ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.
[28] Cái khí cõi âm, cõi chết, ở đây chỉ không khí bãi tha ma.
[29] Thể xác (hữu hình).
[30] Chỉ những cái gì vô hình chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.
[31] Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.
[32] Lòng thành thuần khiết, lòng chí thành.
[33] U là tối, chỉ cõi chết; hiển là sáng rõ, chỉ cõi sống. Ý nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cõi âm, người cõi dương.
[34] Tay càm cương ngựa. Ý nói, buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả.
[35] Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi.
[36] Tức là lưng túi thơ. Những nhà thơ thời xưa hay ngâm phong vịnh nguyệt, nên người ta gọi thơ là phong nguyệt (gió trăng).
[37] Con ngựa, non trẻ, xinh đẹp.
[38] Chuyện trò, bày tỏ tâm tình.
[39] Thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng.
[40] Dặm cỏ xanh.
[41] Cây quỳnh, cành giao: cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. Ý nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng cũng hoá thành đẹp.
[42] Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuý Kiều.
[43] Trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan chức. Nhà trâm anh chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan.
[44] Giàu có.
[45] Theo lối nhà, theo dòng dõi trong nhà, mạch đất đó có truyền thống văn chương.
[46] Dáng điệu.
[47] Tài hoa và dung mạo.
[48] Phong nhã: phong lưu nho nhã; hào hoa: sang trọng phong cách có vẻ quý phái. Vào trong là ở trong nhà, ra ngoài là ra giao thiệp với đời.
[49] Bạn cùng học.
[50] Làng xóm, ý nói vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở vùng lân cận.
[51] Đời Tam Quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh thắng Đông Ngô thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung, tác giả mượn điển cũ để nói lóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung.
[52] Buồng người con gái.
[53] Tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.
[54] Cuộc gặp gỡ tình cờ.
[55] Hội đố lá, còn gọi là diệp hý, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và tìm hiểu nhau.
[56] Bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.
[57] Xuân lan, thu cúc: hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, ngưòi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.
[58] Sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuý Kiều.
[59] Tiếng cổ. Chỉn khôn: chẳng xong, không xong.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Hồi 02