12/12/2019 14:55Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kỳ 5
其五

Tác giả: Vũ Phạm Hàm - 武范邯

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 27/09/2018 14:45

 

Nguyên tác

官職無才思已闌,
暫煩賓從駐征鞍。
朝驅旌旆行時令,
夜到樽罍伴客歡。
官舍已空秋草綠,
花枝欲動春風寒。
何當歸去重攜手,
卻伴漁郎把釣竿。

Phiên âm

Quan chức vô tài tứ dĩ lan,
Tạm phiền tân tòng trú chinh an.
Chiêu khu tinh bái hành thời lệnh[1],
Dạ đáo tôn lôi bạn khách hoan.
Quan xá dĩ không thu thảo lục,
Hoa chi dục động xuân phong hàn.
Hà đương quy khứ trùng huề thủ,
Khước bạn ngư lang bả điếu can.

Dịch nghĩa

Quan chức không tài cán gì, nghĩ mà thấy mệt mỏi đường sĩ hoạn,
Tạm gác u phiền chủ khách dừng trên yên ngựa để chia tay.
Sớm ra đi giữa đám cờ bay, mong để thi hành thời lệnh,
Tối đến cùng bạn hữu lại vui vẻ say sưa.
Quan xá đã hoang tàn vắng vẻ, lại thêm cỏ mọc xanh um,
Nhánh hoa lay động trong gió xuân mà lạnh lẽo.
Sao không lại nắm tay nhau cùng lui ẩn,
Làm bạn với làng chài vui vẻ với sông nước.

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Đức Toàn (II))

Quan chức vô tài nghĩ chẳng đừng,
Tạm phiền trên ngựa ta dừng chia tay.
Sớm đi giữa đám cờ bay,
Thi hành chính lệnh giúp đầy muôn dân.
Tối đến họp bạn xa gần,
Chén vàng rượu rót mấy lần cùng vui.
Nhà hoang thêm bị cỏ vùi,
Nhánh hoa lay động gió vui rỡn cành.
Sao chẳng quy ẩn cho nhanh,
Cùng chàng ngư phủ sóng xanh vui vầy.
Các câu được trích từ:
- Câu 1. Đàm Dụng Chi, Ký hữu nhân (câu 2)
- Câu 2. Quyền Đức Dư, Tống Trương Cái Lão trung thừa trì tiết sách điếu Hồi Hột (câu 8)
- Câu 3. Lưu Vũ Tích, Tảo xuân đối vãn phụng ký Phong Châu Nguyên lang trung (câu 3)
- Câu 4. Trương Tân, Tiền Đường dạ yến lưu biệt quân thú (câu 2)
- Câu 5. Lưu Trường Khanh, Đăng Dư Vu cổ thành (câu 3)
- Câu 6. Vương Duy, Trước tiểu dữ Bùi Địch (câu 6)
- Câu 7. Đàm Dụng Chi, Thu dạ đồng hữu nhân thoại cựu (câu 7)
- Câu 8. Hứa Hồn, Bá Thượng phùng Nguyên Cửu xử sĩ đồng quy (câu 8)

[1] Là những chính lệnh thuận theo từng mùa. Dựa theo quý tiết chế định ra chính lệnh gọi là “thời lệnh”, cổ nhân chép chính lệnh trong 12 tháng, gọi là “nguyệt lệnh” tức là chỉ “thời lệnh”. Kinh lễ - Nguyệt lệnh - Quý đông chi nguyệt: “Thiên tử dữ công khanh đại phu cộng sức quốc điển luận thời lệnh dĩ đãi lai tuế chi nghi” 天子與公卿大夫共飾國典論時令以待來歲之宜 (Thiên tử cùng công khanh sĩ phu điểm tô điển chế quốc gia, luận bàn thời lệnh, để thích nghi cho năm tới). Hậu Hán thư - Minh đế kỷ - Vĩnh Bình nhị niên: “Ban thời lệnh sắc quần hậu” 班時令敕群后 (Ban thời lệnh sắc quần hậu). Lời chú: “Thời lệnh vị nguyệt lệnh dã, tứ thời các hữu lệnh” 時令謂月令也,四時各有令 (Thời lệnh gọi là nguyệt lệnh vậy, bốn mùa đều có lệnh).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vũ Phạm Hàm » Kỳ 5