24/09/2021 08:22Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tống Lư thập tứ đệ thị ngự hộ Vi thượng thư linh thấn quy thượng đô nhị thập vận
送盧十四弟侍禦護韋尚書靈櫬歸上都二十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 29/05/2015 22:59

 

Nguyên tác

素幕渡江遠,
朱幡登陸微。
悲鳴駟馬顧,
失涕萬人揮。
參佐哭辭畢,
門闌誰送歸。
從公伏事久,
之子俊才稀。
長路更執紼,
此心猶倒衣。
感恩義不小,
懷舊禮無違。
墓待龍驤詔,
台迎獬豸威。
深衷見士則,
雅論在兵機。
戎狄乘妖氣,
塵沙落禁闈。
往年朝謁斷,
他日掃除非。
但整銅壺箭,
休添玉帳旗。
動詢黃閣老,
肯慮白登圍。
萬姓瘡痍合,
群凶嗜欲肥。
刺規多諫諍,
端拱自光輝。
儉約前王體,
風流後代希。
對揚期特達,
衰朽再芳菲。
空裏愁書字,
山中疾采薇。
撥杯要忽罷,
抱被宿何依。
眼冷看征蓋,
兒扶立釣磯。
清霜洞庭葉,
故就別時飛。

Phiên âm

Tố mạc độ giang viễn,
Chu phan đăng lục vi.
Bi minh tứ mã cố,
Thất thế vạn nhân huy.
Tham tá khốc từ tất,
Môn lan thuỳ tống quy.
Tòng công phục sự cửu,
Chi tử tuấn tài hi.
Trường lộ cánh chấp phất,
Thử tâm do đảo y.
Cảm ân nghĩa bất tiểu,
Hoài cựu lễ vô vi.
Mộ đãi long nhương chiếu,
Đài nghênh giải trãi uy.
Thâm trung kiến sĩ tắc,
Nhã luận tại binh ky.
Nhung Địch thừa yêu khí,
Trần sa lạc cấm vi.
Vãng niên triều yết đoạn,
Tha nhật tảo trừ phi.
Đãn chỉnh đồng hồ tiễn,
Hưu thiêm ngọc trướng kỳ.
Động tuân Hoàng các lão,
Khẳng lự Bạch Đăng[1] vi.
Vạn tính sang di hợp.
Quần hung thị dục phì.
Thích qui đa gián tránh,
Đoan củng tự quang huy.
Kiệm ước tiền vương thể,
Phong lưu hậu đại hi.
Đối dương kỳ đặc đạt,
Suy hủ tái phương phi.
Không lý sầu thư tự,
Sơn trung tật thái vi.
Phế bôi yêu hốt bãi,
Bảo bị túc hà y.
Nhãn lãnh khan chinh cái,
Nhi phù lập điếu ky.
Thanh sương Động Đình diệp,
Cố tựu biệt thì phi.

Dịch nghĩa

Màn trắng xuống sông đi xa,
Cờ phướn đỏ lên bờ cắm đó.
Ngựa tứ ngoái cổ kêu buồn,
Vạn người lau giọt nước mắt rơi.
Các người làm việc dưới quyền khóc từ biệt lần cuối,
Các người tay chân của ông ai là kẻ đi theo về.
Theo ông làm việc đã lâu rồi,
Các người này là những người tài hiếm có.
Đường dài thay nhau đưa đám,
Lòng này vẫn còn đang sửng sốt.
Lòng ghi ơn không phải là nhỏ,
Nhớ điều cũ, lễ không sai sót.
Mộ còn chờ chiếu nhà vua ban ra,
Đài đón tiếp có trưng bày sẵn hình giải trãi.
Trong lòng thấy rõ phép tắc của kẻ sĩ,
Khi bàn về kế hoạch quân sự thì rất dẽ dàng.
Bọn Nhung Địch thừa lúc có biến loạn,
Nên đã khiến cát bụi lọt tới nơi cung cấm.
Về triều bái yết như những năm trước thế là đứt đoạn,
Việc đánh dẹp như ngày nào cũng không còn.
Đã xếp ngay ngắn các tên trong ống đồng,
Thì đừng có thêm cờ trong trướng ngọc nữa.
Nếu khởi sự tra hỏi nhân viên phủ thừa tướng,
Thì hãy lo đến cuộc bao vây nơi núi Bạch Đăng.
Nỗi đau thương của trăm họ hợp lại,
Lòng tham lam của bọn dữ trương lên.
Phạm vào qui tắc thì có nhiều can ngăn,
Khép nép là tự làm sáng rực.
Cái cung cách của vua đời trước là tiết kiệm,
Lòng mong ước của đời sau là được sung túc.
Nhắm đúng để thấy được kết quả tốt,
Suy thoái sẽ trở lại tươi sáng.
Giữa không khí viết chữ sầu,
Trong núi lóng ngóng hái rau vi.
Ly dùng bỗng nên cần bỏ,
Mền ôm ngủ nương tựa nơi nào.
Mắt lạnh coi cái lọng ra đi,
Con đỡ bố ngồi nơi chỗ câu cá.
Sương trong thấm lá nơi Động Đình,
Cố ý nhằm trong lúc chia tay mà bay.

Bản dịch của Phạm Doanh

Màn trắng lướt theo sông xa tới,
Cờ phan đỏ phất phới bờ bên.
Ngựa tứ quay cổ hí rền,
Vạn người gạt giọt lệ buồn đang rơi.
Kẻ dưới quyền khóc thôi từ biệt,
Ai trong nhà lê gót theo sau.
Theo ông phục vụ đã lâu,
Họ là những kẻ tài cao trên đời.
Đưa đám tang đường dài chăm chút,
Tấm lòng này thương sót không nguôi.
Cảm vì ân nghĩa cao vời,
Trong lòng nào dám xa rời lễ xưa.
Mộ còn chờ chiếu vua cho đắp,
Giải trãi chào một cặp trên đài.
Bên trong lộ rõ nét người,
Việc binh bị lại góp lời bàn chung.
Nhân có biến, Địch Nhung gây hấn,
Đưa cát bụi tới tận cung vua.
Hết rồi chầu chực năm xưa,
Công lao ngày nọ, tảo trừ cũng không.
Tên đựng trong ống đồng đã bó,
Cờ trong trướng ngọc chớ trương thêm.
Căn vặn hoàng các nhân viên,
Bạch Đăng vây hãm hãy còn đáng lo.
Trăm họ khổ dày vò càng lắm,
Mà bọn dữ càng muốn tham ăn.
Trái lẽ tất lắm can ngăn,
Khúm núm ắt được bình an rỡ ràng
Vua đời trước hết lòng dè sẻn,
Để đời sau đạt đến giàu sang.
Nhắm đúng, thành đạt khác thường,
Đang là hủ bại chuyển sang tươi mầu.
Giữa quãng không, chữ sầu viết mãi,
Trong núi sâu mải hái rau vi.
Ly rượu thôi hãy bỏ đi,
Chiếc mền đắp biết trông nhờ nơi nao.
Mắt lơ đãng nhìn theo lọng khuất,
Con dìu đi tới tuốt bãi doi.
Động Đình lá thấm sương trời,
Cứ chờ li biệt tơi bời rụng bay.
(Năm 769)

[1] Tại Sơn Tây, đông huyện Đại Đồng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tống Lư thập tứ đệ thị ngự hộ Vi thượng thư linh thấn quy thượng đô nhị thập vận