03/12/2021 21:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phần 8

Tác giả: Đặng Huy Trứ - 鄧輝著

Thể thơ: Lục bát; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 09/12/2018 09:58

 

Khi ăn khi ngủ phải thăm,
Mẹ nằm bên ướt, con nằm bên khô;
Mãn nghe con khóc ô ô,
Đói ăn khát bú kĩ dò chớ sai;
Dầu sanh tạp chủng một hai,
Bệnh trong tâm phúc, bệnh ngoài bì phu;
Riêng chăm thuốc uống thuốc đồ,
790. Kiêng ăn nhịn ngủ sợ lo ân cần;
Trẻ thơ vừa lúc hay ăn,
Miệng nhai cơm búng, tay mằn cá xương;
Áo chăn may vá lặp lường,
Thước dài thước vắn xem đường dọc ngang;
Những là vóc nhiễu bạc vàng,
Chớ đeo chớ mặc ra đàng phải tai;
Thuỷ ngân thạch tín mọi loài,
Kiếm nơi cất kín kẻo mai con lầm;
Dây thừng, dao búa, chuỳ châm,
800. Đồng tiền chiếc đũa con cầm chớ trao;
Thần linh miễu thẳm điện cao,
Đừng cho xông xáo bước vào hại con;
Biết đi biết chạy lon bon,
Giữ gìn nước lửa cho tròn thỉ chung;
Khí trời nóng lạnh tố dông,
Những hơi sương gió chớ bồng con ra;
Lớn lên gái mẹ trai cha,
Tôn thầy gần bạn, đều là chánh nhơn;
Trà đình tửu tứ chớ thân,
810. Sĩ nông công cổ bốn dân tập rèn;
Ơn thầy ngãi bạn giả đền,
Ít nhiều hậu bạc theo nền nếp ta;
Tới ngày nam thất nữ gia,
Vợ chồng định liệu cửa nhà qui mô;
Ví dầu di phúc thác ô,
Hết lòng đưỡng dục mới phô rằng người;
Trẻ thơ tính nết hay chơi,
Mình làm mẹ nó chớ dời con ta;
May mà con có thầy cha,
820. Tay dìu miệng dắt phận ta đã rồi;
Ví bằng mẹ goá con côi,
Cần nên dạy bảo khi ngồi khi ăn;
Nào là gà đá muôn săn,
Bạc cờ đĩ thoả áo khăn dập dìu;
Nào là bạn quỉ bạn yêu,
Trường chay đám bội rủ kêu đêm ngày;
Nào là trà tỉnh rượu say,
Bàn đèn ống điếu bắt tay chào mời;
Nào là cá nước chim trời,
830. Rày câu mai bán khắp nơi quên về;
Nào là ăn nói u mê,
Cắt tay đặt miệng kẻ chê người cười,
Kể chi con một con mười?
Mình làm đạo mẹ cạn lời với con;
Bằng đà nói ngọt nói ngon,
Mà con nghịch mạng đánh đòn cho đau;
Cửa buồng ngăn trước ngăn sau,
Trong màn ngoài sáo bảo theo phép nhà;
Gái nầy mười tuổi xa cha,
840. Trai kia mười tuổi nằm xa mẹ mình;
Nàng dâu chàng rể đã đành,
Tớ trai tớ gái thuộc thành áo cơm;
Chớ cho lửa bén gần rơm,
Ếch nầy giếng nọ người đơm kẻ bày;
Vật chi trao chịu sang tay,
Lựa nơi mà đặt giữ ngày như đêm;
Dầu mà thuốc vấn trầu têm,
Có cơi có hộp chớ hiềm không đưa;
Cấm đừng hoa nguyệt kéo cưa,
850. Hát đi hát lại lọc lừa tiếng dâm;
Cũng đừng vào chốn tối tăm,
Nghiêng tai nói nhỏ lâm râm nhiều lời;
Dầu khi đi đứng gần nơi,
Phải lên tiếng trước cho người sửa sang;
May ra mình lấy chồng sang,
Hay là quyền chức đi đàng công danh;
Khuê môn mình giữ phận mình,
Nhẽ đâu nói việc triều đình làm chi?
E mình là đứa vô tri,
860. Đưa dây dứt mối có khi mà lầm;
Huống chi mình lại hắc tâm,
Ngửa tay cất lấy huỳnh câm đem vào;
Ví dầu trà đặt bánh trao,
Không bao nhiêu đó cũng giao lại người;
E mai tội lệ tới nơi,
Đồ lưu trảm giảo muôn đời đục nhơ;
Bằng may lánh khỏi bấy giờ,
Của nầy phi ngãi cũng chờ lúc ra;
Nào là địa ngục dạ xoa,
870. Nào là phá háo sao sa cửa mình?
Luật trời phép nước chẳng khinh,
Chi bằng giữ vẹn liêm trinh mà nhờ;
Bạn hiền mời rước đợi chờ,
Những người đàng điếm đi ra cho rồi;
Ví bằng đứng đứng ngồi ngồi,
Nào ai phải lứa vừa đôi chi mà?
Một mai miệng lỡ chơn sa,
Lấy theo nết nó, nết ta chi còn?
Cho hay đen mực đỏ son,
880. Lại thêm ống méo bầu tròn những xưa;
Vậy nên phải luận người ưa,
Những trang thục nữ ta đưa bạn về;
Rồi ra tập nết tập nghề,
Công, dung, ngôn, đức bốn bề đều xong;
Chị em chung thỉ một lòng,
Sau thầy trước bạn chớ hòng phụ ai;
Những điều dạy bảo một hai,
Tám mươi ba tiết lòng dài ý sâu;
Những người làm gái làm dâu;
890. Cùng là làm mẹ vẹn đầu vẹn sau;
Nói chi hèn khó sang giàu?
Trẻ già lớn bé nhủ nhau một bề;
Sao cho khỏi nhuốm thói mê,
Ấy là đặng chữ gia tề tốt thay;
Khí hoà vầy hiệp từ nay,
Trời đưa phước lộc một ngày một lên;
Trăm năm vàng cứng đá bền,
898. Dặn cùng ai nấy chớ quên dạy nầy.
Nguồn: Đặng Huỳnh Trung, Huấn nữ ca, Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ và dẫn giải, bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Saigon, 1882

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đặng Huy Trứ » Phần 8