23/11/2019 00:11Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Yết Tiên Chủ miếu
謁先主廟

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 20/04/2015 09:00

 

Nguyên tác

慘澹風雲會,
乘時各有人。
力侔分社稷,
志屈偃經綸。
複漢留長策,
中原仗老臣。
雜耕心未已,
歐血事酸辛。
霸氣西南歇,
雄圖歷數屯。
錦江元過楚,
劍閣複通秦。
舊俗存祠廟,
空山立鬼神。
虛簷交鳥道,
枯木半龍鱗。
竹送清溪月,
苔移玉座春。
閭閻兒女換,
歌舞歲時新。
絕域歸舟遠,
荒城系馬頻。
如何對搖落,
況乃久風塵。
孰與關張並,
功臨耿鄧親。
應天才不小,
得土契無鄰。
遲暮堪帷幄,
飄零且釣緡。
向來憂國淚,
寂寞灑衣巾。

Phiên âm

Thảm đạm phong vân hội,
Thừa thì các hữu nhân.
Lực mâu phân xã tắc,
Chí quật yển kinh luân[1].
Phục Hán lưu trường sách,
Trung nguyên trượng lão thần[2].
Tạp canh tâm vị dĩ,
Ẩu huyết sự toan tân.
Bá khí tây nam át,
Hùng đồ lịch số truân.
Cẩm Giang nguyên quá Sở,
Kiếm Các phục thông Tần.
Cựu tục tồn từ miếu,
Không sơn lập quỷ thần.
Hư diêm giao điểu đạo,
Khô mộc bán long lân.
Trúc tống thanh khê nguyệt,
Đài di ngọc toà xuân.
Lư diêm nhi nữ hoán[3],
Ca vũ tuế thì tân.
Tuyệt vực quy chu viễn,
Hoang thành hệ mã tần.
Như hà đối dao lạc,
Huống nãi cửu phong trần.
Thục dữ Quan, Trương[4] tính,
Công lâm Cảnh[5], Đặng[6] thân.
Ứng thiên tài bất tiểu,
Đắc thổ khế vô lân.
Trì mộ kham duy ốc,
Phiêu linh thả điếu mân.
Hướng lai ưu quốc lệ,
Tịch mịch sái y cân.

Dịch nghĩa

Lúc đi tìm bậc hào kiệt hợp tác thì vắng vẻ làm sao,
Nhưng khi đúng lúc thì đều có người giúp đỡ.
Lúc lực lượng ngang nhau thì đất nước chia ra ba,
Không tỏ lộ chí hướng và dấu tài.
Có đề lại chính sách để phục hồi cơ đồ nhà Hán,
Vùng Trung nguyên nhờ vào người giúp việc thân tín già.
Cày cuốc lòng chưa yên,
Việc đau sót đến mửa ra máu.
Cái khí thế làm bá chủ vùng tây nam tan mất,
Dự tính tranh hùng trải qua mấy lần gian nan.
Vượt Cẩm Giang để tới miền Sở,
Đi vượt Kiếm Các đề thông với vùng Tần.
Tục xưa còn miếu thờ,
Giữa chốn núi vắng có lập thần linh.
Thềm trống làm đường cho chim bay,
Cột gỗ khô nửa tạc rồng cá.
Trúc đưa trăng tới suối trong,
Rêu chuyển màu tươi lên toà ngọc.
Làng xóm đổi con gái,
Ca múa đổi mới theo thời trong năm.
Nơi cuối đất thuyền xa trở về,
Cột ngựa bên thành hoang.
Trước cảnh điêu tàn biết sao đây,
Hơn thế nữa lại lặn lội mãi.
Ai là người cùng kết ước với Quan Vũ, Trương Phi.
Công lao nhờ tay người thân cận là Cảnh Yểm, Đặng Vũ.
Cứ đúng theo mệnh trời mà làm, không để ý đến có nhiều tài,
Được đất không ngại có hàng xóm.
Tuổi già chịu trong cảnh rèm màn,
Lênh đênh như dây câu.
Nghĩ lo cho nước sau này mà rớt nước mắt,
Buồn rầu ướt cả áo khăn.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Hội công danh buồn thảm,
Gặp thời có đủ người.
Ngang sức chia đất nước,
Dấu chí, không lộ tài.
Phục Hán đưa chính sách,
Trung nguyên nhờ bề tôi.
Cày cấy lòng chưa quyết,
Mửa máu việc nửa vời.
Tây nam tan mộng lớn,
Dự tính khổ bao hồi.
Tới Sở, Cẩm-giang chảy
Sang Tần Kiếm-các noi.
Tục xưa giữ từ miếu.
Núi vắng quỉ thần coi.
Hiên vắng đường chim lượn,
Cột gỗ trổ rồng ngoi.
Trúc đưa trăng khe tới,
Rêu làm mái ngọc tươi.
Làng xóm con gái bỏ,
Ca múa bốn mùa vui.
Tít xa thuyền về tới,
Thành hoang ngựa cột rồi.
Điêu tàn làm chi được,
Huống lận đận bao hồi.
Ai cùng Quan, Trương kết,
Công nhờ Cảnh, Đặng thôi.
Theo trời hãy gắng sức,
Được đất mà xa vời.
Già cả nơi màn trướng,
Lênh đênh như dây mồi.
Sau này khóc vì nước,
Lã chã áo khăn rơi.
(Năm 766)

Nguyên chú: "Lưu Chiêu Liệt miếu tại Phụng Tiết huyện đông lục lý" 劉昭烈廟在奉節縣東六里 (Miếu Lưu Chiêu Liệt cách huyện Phụng Tiết sáu dặm về phía đông).

[1] Khi Tào Tháo chưa có ý định bãi bỏ nhà hậu Hán, Lưu Bị có làm chức quan nhỏ dưới quyền thừa tướng là Tào Tháo. Trong buổi tiệc, Tào Tháo để dò ý Lưu Bị, có nói: "Anh hùng trong thiên hạ chỉ có Tháo và tướng quân thôi". Lưu Bị chột dạ và run rẩy tưởng Tào Tháo biết được mưu đồ mình, đến nỗi run tay, rơi cả đũa.
[2] Khổng Minh.
[3] Tục lệ địa phương.
[4] Quan Vũ và Trương Phi, hai anh em kết nghĩa.
[5] Cảnh Yểm 耿弇 tự Bá Chiêu 伯昭 người Phù Phong, Mậu Lăng, giúp Hán Vũ Đế thời Đông Hán.
[6] Đặng Vũ 鄧禹, tự Trọng Hoa 仲華, người Tân Đã. Đỗ Phủ nói đến Lưu Bị nhưng nhắc lại thời Tiền Hán là Lưu Bang có Cảnh Yểm, Đặng Vũ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Yết Tiên Chủ miếu