23/09/2021 07:24Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bài ca lưu biệt

Tác giả: Huỳnh Thúc Kháng - 黃叔沆

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 15/03/2005 11:02

 

Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết,
Người ở đời sao khỏi tiết gian nan.
Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an,
Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn[1].
Tiền lộ định tri thiên hữu nhãn[2],
Thâm tiêu do hứa mộng hoàn gia[3],
Mấy nhiêu năm cũng vẫn chưa già.
Nọ núi Ấn[4], này sông Đà[5],
Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt.
Kìa tụ tán chẳng qua là tiểu biệt,
Ngựa Tái ông[6] hoạ phúc biết về đâu!
Một mai kia con tạo khéo cơ cầu[7],
Thảy bốn bể cũng trong bầu trời đất cả.
Ư bách niên trung tu hữu ngã[8],
Dầu đến lúc núi sụp biển lồi, trời nghiêng đất ngả,
Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn.
Trăng kia khuyết đó lại tròn.
Bài thơ này viết năm 1908, trong hoàn cảnh trước khi bị giải ra Côn Đảo và có cuộc tiễn đưa của các chiến hữu trong tù. Bài thơ đã được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân miền Trung thời Pháp thuộc và xứng đáng là một bông hoa tươi thắm trong vườn thơ ca yêu nước và Cách mạng Việt nam ở thể kỷ XX.

Bài thơ này từng được sử dụng trong phần đọc thêm SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006, nhưng đã được lược bỏ trong SGK Ngữ văn 11 từ 2007.

Nguồn:
1. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, 1951, tr. 20
2. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập IV), NXB Văn hoá, 1963
3. Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguyên, Từ ngữ điển cố Văn học, NXB Văn học, 1999
4. Chương Thâu (chủ biên), Tổng tập Văn học Việt Nam - tập 19, NXB Khoa học xã hội, 2000
[1] Chữ Hán: 素患難行乎患難, nghĩa là: Trước nay, gặp hoạn nạn phải xử trí theo hoạn nạn.
[2] Chữ Hán: 前路定知天有眼, nghĩa là: Trên đường đi biết chắc trời có mắt.
[3] Chữ Hán: 深宵猶許夢還家, nghĩa là: Đêm khuya còn thấy mộng về nhà.
[4] Núi Ấn ở làng Mỹ Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
[5] Sông Đà chảy qua Đà Nẵng.
[6] Tích Tái ông thất mã 塞翁失馬 trong sách Hoài Nam tử 淮南子. Câu này có ý là chuyện chẳng may bây giờ (bị đày ra Côn Đảo) chưa hẳn đã là tuyệt vọng.
[7] Cơ cầu (cừu) 箕裘: chỉ việc con hay nối được nghiệp cha ông, do chữ trong sách Lễ ký 禮記: “Lương dã chi tử, tất học vi cừu (cầu); lương cung chi tử, tất học vi cơ” 良冶之子,必學為裘;良弓之子,必學為箕 (Con nhà thợ hàn đúc giỏi, tất học được cách may áo lông thú; con nhà thợ làm cung giỏi, tất học được cách làm thúng).
[8] Chữ Hán: 於百年中須有我, nghĩa là: Trong khoảng trăm năm cần phải có ta. Ý nói ta sẽ phải sống trong cõi đời này để làm phận sự.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Huỳnh Thúc Kháng » Bài ca lưu biệt