14/10/2019 14:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nhập Hành Châu
入衡州

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 14/03/2015 00:40

 

Nguyên tác

兵革自久遠,
興衰看帝王。
漢儀甚照耀,
胡馬何猖狂。
老將一失律,
清邊生戰場。
君臣忍瑕垢,
河岳空金湯。
重鎮如割據,
輕權絕紀綱。
軍州體不一,
寬猛性所將。

嗟彼苦節士,
素於圓鑿方。
寡妻從為郡,
兀者安短牆。
凋弊惜邦本,
哀矜存事常。
旌麾非其任,
府庫實過防。
恕己獨在此,
多憂增內傷。
偏裨限酒肉,
卒伍單衣裳。
元惡迷是似,
聚謀洩康莊。
竟流帳下血,
大降湖南殃。
烈火發中夜,
高煙焦上蒼。
至今分粟帛,
殺氣吹沅湘。
福善理顛倒,
明徵天莽茫。

銷魂避飛鏑,
累足穿豺狼。
隱忍枳棘刺,
遷延胝趼瘡。
遠歸兒侍側,
猶乳女在旁。
各客幸脫免,
暮年慚激昂。
蕭條向水陸,
汩沒隨魚商。
報主身已老,
入朝病見妨。
悠悠委薄俗,
鬱鬱回剛腸。
參錯走洲渚,
舂容轉林篁。
片帆左郴岸,
通郭前衡陽。
華表雲鳥埤,
名園花草香。
旗亭壯邑屋,
烽櫓蟠城隍。

中有古刺史,
盛才冠巖廊。
扶顛待柱石,
獨坐飛風霜。
昨者間瓊樹,
高談隨羽觴。
無論再繾綣,
已是安蒼黃。
劇孟七國畏,
馬卿四賦良。
門闌蘇生在,
勇銳白起強。
問罪富形勢,
凱歌懸否臧。
氛埃期必掃,
蚊蚋焉能當。

橘井舊地宅,
仙山引舟航。
此行厭暑雨,
厥土聞清涼。
諸舅剖符近,
開緘書札光。
頻繁命屢及,
磊落字百行。
江總外家養,
謝安乘興長。
下流匪珠玉,
擇木羞鸞皇。
我師嵇叔夜,
世賢張子房。
柴荊寄樂土,
鵬路觀翱翔。

Phiên âm

Binh cách tự cửu viễn,
Hưng suy khan đế vương.
Hán nghi thậm chiếu diệu,
Hồ mã hà xương cuồng.
Lão tướng nhất thất luật,
Thanh biên sinh chiến trường.
Quân thần nhẫn hà cấu,
Hà nhạc không kim thang[1].
Trọng trấn như cát cứ,
Khinh quyền tuyệt kỷ cương.
Quân châu thể bất nhất,
Khoan mãnh tính sở tương.

Ta bỉ khổ tiết sĩ,
Tố vu viên tạc phương.
Quả thê[2] tòng vi quận,
Ngột giả an đổ tường.
Điêu tệ tích bang bản,
Ai căng tồn sự thường.
Tinh huy phi kỳ nhiệm,
Phủ khố thực qua phòng.
Thứ kỷ do tại thử,
Đa ưu tăng nội thương.
Thiên bì hạn tửu nhục,
Tốt ngũ đơn y thường.
Nguyên ác mê thị tự,
Tụ mưu duệ khang trang.
Cánh lưu trướng hạ huyết,
Đại giáng Hồ Nam ương.
Liệt hoả phát trung dạ,
Cao yên tiều thượng thương.
Chí kim phân túc bố,
Sát khí xuy Nguyên[3], Tương[4].
Phúc thiện lý điên đảo,
Minh trưng thiên mãng mang.

Tiêu hồn tịch phi đích,
Luỹ túc xuyên sài lang.
Ẩn nhẫn chỉ cức thích,
Thiên duyên chi biền thương.
Viễn qui nhi thị trắc,
Do nhũ nữ tại bàng.
Các khách hạnh thoát vãn,
Mộ niên tàm kích ngang.
Tiêu điều hướng thuỷ lục,
Mịch một tuỳ ngư thương.
Báo chủ thân dĩ lão,
Nhập triều bệnh kiến phương.
Du du uỷ bạc tục,
Úc úc hồi cương trường.
Tham thố đồ châu chử,
Thung dung chuyển lâm hoàng.
Phiến phàm tả Sâm ngạn,
Thông quách tiền Hành Dương.
Hoa biểu vân điểu bì,
Danh viên hoa thảo hương.
Kỳ đình trang ấp ốc,
Phong lỗ bàn thành hoàng.

Trung hữu cổ chế sứ[5],
Thịnh tài quán nghiêm lang[6].
Phù điên đãi trụ thạch,
Độc toạ phi phong sương.
Tạc giả gián quỳnh thụ,
Cao đàm tuỳ vũ thương[7].
Vô luận tái khiển quyển,
Dĩ thị an thương hoàng.
Kịch Mạnh[8] thất quốc uý,
Mã Khanh tứ phú[9] lương.
Môn gián Tô sinh[10] tại,
Dũng nhuệ Bạch Khởi[11] cường.
Vấn tội phú hình thế[12],
Khải ca huyền bĩ Tang.
Phân ai kỳ tất tảo,
Văn nhuế yên năng đương.

Quất tỉnh cựu địa trạch[13],
Tiên sơn dẫn chu hàng.
Thử hành yếm thự vũ,
Quyết thổ văn thanh lương.
Chư cữu phẫu phù cận,
Khai hàm thư trát quang.
Tần phiền mệnh lũ cập,
Lỗi lạc tự bách hàng.
Giang Tổng[14] ngoại gia dưỡng,
Tạ An[15] thăng hứng trường.
Hạ lưu phỉ châu ngọc,
Trạch mộc tu loan hoàng.
Ngã sư Kê Thúc Dạ[16],
Thế hiền Trương Tử Phòng[17],
Sài kinh ký lạc thổ,
Bằng lộ quán cao tường.

Dịch nghĩa

Chiến trận từ lâu xa rồi,
Nghiệp vua thấy lúc thịnh lúc suy.
Thời Hán thật rỡ ràng,
Sao ngựa Hồ lại ngang ngược.
Tướng già một khi không nghiêm,
Nơi biên giới yên lành thành ra chiến trường.
Bề tôi chịu cảnh nhớp nhúa,
Non sông không có nơi nào vững chãi.
Những nơi quan trọng nếu bị chiếm đóng,
Quyền lực cấp dưới sẽ làm tan nền nếp.
Bản chất quân khu không thống nhất,
Mềm, cứng tuỳ theo mỗi trường hợp.

Thương thay cho những con người khí tiết,
Nêm vuông mà lỗ tròn.
Bà goá bị lôi vào trong quận,
Kẻ cao lênh khênh lại tìm núp dưới tường thấp.
Suy tàn tiếc cho gốc nước,
Rộng lượng xét đến việc thường sảy ra.
Cầm cờ đầu không phải là nhiệm vụ của ông ta,
Kho dự trữ thật là quá phòng bị.
Khoan thứ với mình chính từ chỗ này mà ra,
Lo lắng nhiều thành ra đau tức bên trong.
Các phó tướng hạn chế rượu thịt,
Lính tráng trang phục thô sơ.
Tội lớn nhầm lẫn giống như thế đó,
Họp bàn mưu kế bị lộ tùm lum.
Nên máu chảy ngay trong văn phòng tham mưu,
Gây tai hoạ lớn cho Hồ Nam,
Nửa đêm bốc cháy dữ dội,
Khói cao bốc ngất trời.
Tới nay chia thóc, lụa,
Không khí chết chóc còn tràn khắp vùng hai sông Nguyên, Tương.
Làm điều thiện thì được phúc nay trái lại,
Nêu rõ việc thuế má trong khi tình hình nhốn nháo này.

Hết hồn nên chạy tránh tên bay đạn lạc,
Mỏi chân đi qua chỗ hổ sói.
Cố chịu để gai góc đâm,
Loạc choạc nên cánh tay cùi chõ bị trầy trụa.
Từ xa về, con trai chực bên cạnh,
Còn bú sữa nên con gái ngay bên.
Các khách xưa may thoát khỏi,
Tuổi già thẹn thấy ý khí phấn phát.
Nhìn lên bờ với dưới nước thấy cảnh tiêu điều,
Cứ lò dò đi theo người buôn với dân chài.
Đền ơn vua thì thân mình đã già,
Có làm quan thì bệnh gây cản trở.
Thôi cứ đành chịu mà theo thói thường,
Bùi ngùi quay về với tính nói thẳng của mình.
Ngụp lặn chạy nơi vùng sông bến nước,
Chậm chậm di chuyển nơi rừng trúc.
Buồm chiếc ở bên trái bờ sông thuộc Sâm Châu,
Thành nối với huyện Hành Dương.
Cảnh bắt mắt là lúc chim với mây hiện ra,
Vườn nổi tiếng có hoa thơm cỏ lạ.
Cờ bay trên những mái nhà lớn,
Chòi lửa nằm quanh bờ nóc thành.

Trong đó Hành Châu có viên chế sứ cũ,
Tài lớn vượt hơn mọi người nơi hành lang cao vời.
Giữ nước yên chờ người làm cái cột đá,
Ngồi một mình vững trong cảnh gió sương bay.
Bữa trước ở nơi sang trọng,
Thao thao bàn chuyện tuỳ theo chén rượu lớn.
Không kể là có do dự lại không,
Đó là cốt làm rõ cái láo nháo.
Kịch Mạnh khiến bảy nước sợ,
Bốn bài phú của Tư Mã Tương Như nghe êm.
Ngay cửa lại có Tô Hoán,
Sức mạnh hệt như Bạch Khởi vậy.
Hỏi tội có nhiều cánh quân kéo tới,
Bài ca chiến thắng sẽ gạt đi cái nạn do Tang Giới gây.
Hơi bụi rồi cũng có lúc quét sạch,
Loài ruồi muỗi làm sao có thể chống cự nổi.

Nền nhà cũ nới Giếng Quất,
Thuyền bè đi quanh núi tiên.
Chuyến đi này chán nản vì mưa rào,
Vùng đất này nghe nói không khí mát mẻ.
Ông cậu gần đây được phong tước,
Mở bao thấy lá thư sáng rực.
Liên tục luôn theo mệnh,
Loạc chạc chữ trăm hàng.
Được bà ngoại nuôi dưỡng trở thành như Giang Tổng,
Và nhân leo cao được như Tạ An.
Đi xuống dưới dòng đầy những châu ngọc,
Chọn cây thấy ngượng cùng chim phượng chim hoàng.
Thày ta hệt như Kê Thúc Dạ,
Giống kẻ hiền trên đời là Trương Tử Phòng.
Đất sống gửi nơi gai cỏ,
Ngắm coi đường chim bằng vun vút.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Loạn lạc đã từ lâu không có,
Nghiệp đế vương theo lẽ hưng suy.
Rỡ ràng thời Hán uy nghi,
Ngựa Hồ sao dám khinh khi ngông cuồng.
Tướng già một khi không theo phép,
Khiến biên cương bị ngập bụi mù.
Quân dân lâm cảnh bùn dơ,
Núi sông trống trải không bờ hào ngăn.
Nơi trọng yếu nếu sang tay giặc,
Các địa phương bỏ mặc kỷ cương.
Quân khu tuỳ thế mỗi vùng,
Tuỳ theo đặc tính mà buông hay cầm.

Thương người tốt bị lâm cảnh khổ,
Vì nêm vuông mà lỗ lại tròn.
Bà goá bị giữ trong quân,
Bức tường ngắn thấp che thân cao kềnh.
Tiếc gốc nước tan tành đổ vỡ,
Buồn thương cho kẻ giữ việc thường.
Phất cờ chẳng phải việc ông,
Trong kho nhà nước dự phòng quá dư.
Suy bụng ta bởi do cái nọ,
Lo lắng nhiều nỗi khổ tăng lên.
Phụ tá bị bớt phần ăn,
Lính tráng chỉ có áo đơn che người.
Cái ác lớn lầm sai chỗ đó,
Mưu tính chung bị lộ truyền lan.
Trong trại máu mới đổ tràn,
Hoạ kia đổ xuống Hồ Nam một vùng.
Nửa đêm lửa bỗng bùng dữ dội,
Khói tuôn cao cháy tới lưng trời.
Tới nay gạo vải chia rồi,
Không khí chết chóc kéo dài Nguyên, Tương.
Lẽ nhân quả nay dường đảo ngược,
Trời mênh mang thấy được điều này.

Hoảng hồn còn sợ tên bay,
Đôi chân rã rợi, gặp bày sói lang.
Gai châm chích, cắn răng mà nhịn,
Cùi tay trầy vẫn vịn mà đi.
Trai bên cạnh lúc xa về,
Gái còn bú sữa nên chi chẳng rời.
Các khách cũ may thôi khỏi tiếp,
Ganh đua thấy thẹn kiếp thân già.
Tiêu điều dưới nước trên bờ,
Dân chài, bác lái lò dò mình theo.
Thân già rồi thánh triều khó báo,
Nếu làm quan bệnh tạo tổn thương.
Thôi bỏ mặc, theo thói thường,
Bùi ngùi vì tính cương cường mà ra.
Quanh bến nước lân la đã mỏi,
Lại lênh đênh ruộng cói khóm tre.
Bờ Sâm bên trái buồm kia,
Cửa trước thông với ngay bờ Hành Dương.
Mây với chim rỡ ràng cảnh vật,
Vườn hoa tươi phảng phất hơi hương.
Cờ bay trên nóc xóm làng,
Tường thành đài lửa từng hàng hiện lên.

Ở nơi đó có viên chế sứ,
Tài vốn cao, vượt cả các quan
Cứu nguy, cột đá giữ yên,
Mình ngồi trong cõi gió triền, gieo sương.
Đám hào kiệt vừa đương bữa trước,
Bàn luận hăng tay chuốc chén men.
Dù cho lại có rối ren,
Hãy dùng điều đó giữ yên đất trời.
Kìa Kịch Mạnh, rụng rời bảy nước,
Lại Tương Như phú được lưu truyền.
Chàng Tô cửa ở ngay bên,
So với Bạch Khởi há hèn kém đâu!
Quân hỏi tội biết bao phương án,
Hát vang lừng dẹp bọn cuồng nô.
Sớm hẹn kì quét bụi mù,
Làm sao bọn muỗi đương đầu nổi a.

Nơi Giếng Quất là nhà ở cũ,
Ngọn núi Tiên dẫn đủ ghe trôi.
Chuyến này những chán mưa rươi,
Lại nghe đất đó trong tươi một làn.
Có ông cậu làm quan gần đó,
Mở bao thư, một lá rỡ ràng.
Luôn luôn số những lỡ làng,
Bao dung qua cả trăm hàng chữ ghi
Bên ngoại nuôi, giống y Giang Tổng,
Như Tạ An nổi hứng kéo dài.
Cuối dòng chẳng phải ngọc trai,
Chọn cây, đâm thẹn với loài chim tê.
Thày của ta là Kê Thúc Dạ,
Thêm Trương Lương hiền ở trên đời.
Đất lành tuy lắm tre gai,
Cánh chim bằng cũng vút trời bay lên.
(Năm 770)

Bài thơ này chia làm 5 đoạn với nội dung như sau:
- Đoạn 1: Giới thiệu.
- Đoạn 2: Thương cho Thôi Quán.
- Đoạn 3: Quay trở lại Hành Châu.
- Đoạn 4: Gửi Hành Châu chế sứ Dương Tế và bạn là Tô Hoán.
- Đoạn 5: Nhớ ông cậu ở Sâm Châu. Thôi Vĩ 崔偉 là cậu của Đỗ Phủ, lúc đó quyền Bân (Sâm) châu, nên Đỗ Phủ định tới để nương nhờ.

[1] Do chữ "kim thành thang trì", có thành chắc như sắt, ao nóng như nước sôi.
[2] Vì quân nổi loạn giết lính triều đình và bắt vợ họ.
[3] Sông lớn của tỉnh Hồ Nam, có hai nguồn phía bắc và nam. Bắc xuất phát từ huyện Úng An, Quý Châu, tức là sông Vũ, cũng có tên là sông Trấn Dương. Nam có nguồn từ hai sông Trư Lương và Mã Vĩ cùng chảy vào sông Thanh Thuỷ. Hai dòng của sông Nguyên này chảy về đông đi vào địa phận tỉnh Hồ Nam, gặp nhau ở phía tây huyện Kiềm Dương, gọi chung là sông Nguyên, chia làm nhiều nhánh đổ vào hồ Động Đình.
[4] Bắt nguồn từ đông huyện Linh Xuyên, Quảng Tây, chung nguồn với sông Ly, hợp vào với bốn sông lớn của tỉnh Hồ Nam, tiến về phía đông bắc tỉnh Hồ Nam, qua Linh Lăng, Hành Dương, hợp lưu với sông Tiêu, sông Chưng, tiến lên bắc qua Trường Sa, rồi đổ vào hồ Động Đình, dài chừng 817km.
[5] Tên là Dương Tế 陽濟.
[6] Chỉ cung vua.
[7] Thời xưa bình rượu có hình chim sẻ, nhỏ thì có tên đoản vĩ, lớn thì gọi là vũ dực.
[8] Tướng tài thời Hán, người Lạc Dương. Chu Á Phu tới Hà Nam thu nhận được Kịch Mạnh.
[9] Bốn bài phú nổi tiếng của Tư Mã Tương Như, tự Trường Khanh: Tử hư phú, Thượng lâm phú, Đại nhân phú, Ai Nhị thế phú.
[10] Tô Hoán 蘇渙, giữ chức thị ngự.
[11] Tướng giỏi của nước Tần thời Chiến Quốc, sau vì hiềm khích với Phạm Thư mà bị bức tử.
[12] Dương Tử Lâm từ Lễ Châu, Bùi Cầu từ Đạo Châu và Dương Tế từ Hành Châu.
[13] Chỉ Sâm Châu. Quất tỉnh tại huyện Sâm, Hồ Nam. Theo Thần tiên truyện, truyện Tô tiên công 蘇仙公 của Cát Hồng 葛洪 đời Tấn, Tô Đam 蘇耽 có căn dặn bà mẹ trước khi thành tiên"Sang năm thiên hạ bị nạn dịch, nước giếng trong sân, cây quất bên hè, có thể dùng cứu sống được. Một gầu nước giếng, lá quất một cây có thể trị liệu cho một người". Năm tới quả có dịch, xa gần đều tới xin bà mẹ thuốc trị. Đều có được nước giếng mà khỏi bệnh. Sau này dùng cùng để chỉ phương thuốc thần hiệu.
[14] Giang Tổng (519-594) tự Tổng Trì, người vùng Khảo Thành đời Nam Bắc triều, trước theo vua Lương, sau theo vua Tuỳ, giữ chức bộc xạ thượng thư lệnh nên còn mang tên Giang Lệnh, giỏi văn từ.
[15] Tạ An (320-385) tự An Thạch 安石, người Dương Hạ đời Tấn. Một nhà hành chính có tài, chức tới thái phó. Trước đó, ẩn cư nơi núi đông, tới bốn mươi tuổi mới ra làm quan.
[16] Kê Khang 嵇康.
[17] Trương Lương, công tử nước Hàn vốn bị Tần diệt nên ông theo phò Lưu Bang, quyết chí phục thù. Ở đây chỉ Trương Khuyến 張勸 giữ chức duyện.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Nhập Hành Châu