15/11/2019 11:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bùi viên cựu trạch ca [Bùi viên ca]
裴園舊宅歌【裴園歌】

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Ca trù - hát nói; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 05/04/2006 08:27

 

Nguyên tác

裴園吾舊宅,
四十年今日賦歸來。
松松菊菊梅梅,
飄然有丘壑林泉之逸趣。
彭澤素琴吟舊句,
溫公尊酒樂餘春。
東風回首淚沾巾,
渺茫際滄海桑田經幾度。
君莫嘆魯侯之不過,
鬅鬙白髮復何為?
歸去來兮胡不歸!

Phiên âm

Bùi Viên ngô cựu trạch,
Tứ thập niên[1] kim nhật phú quy lai.
Tùng tùng, cúc cúc[2], mai mai,
Phiêu nhiên hữu khâu, hác, lâm, tuyền chi dật thú.
Bành Trạch[3] tế cầm ngâm cựu cú,
Ôn công[4] tôn tửu lạc dư xuân.
Đông phong hồi thủ lệ triêm cân,
Diểu mang tế, thương hải tang điền kinh kỷ độ,
Quân mạc thán Lỗ hầu[5] chi bất ngộ.
Bằng tăng bạch phát phục hà vi?
Quy khứ lai hề, hồ bất quy!

Dịch nghĩa

Vườn Bùi, nơi nhà cũ của ta.
Đã bốn mươi năm, ngày nay mới được trở về.
Tùng tùng, cúc cúc, mai mai,
Phơi phới có thú vui nhàn dật nơi núi, khe, rừng, suối.
Bành Trạch gảy cây đàn không dây, ngâm câu thơ cũ,
Ôn Công nâng chén rượn vui với ngày xuân còn lại.
Ngoảnh đầu nhìn gió đông, giọt lệ đầm khăn.
Trong khoảng mênh mông trải bao cuộc nương dâu bãi bể.
Anh đừng than không gặp được Lỗ hầu,
Tóc bạc bù xù còn biết làm gì được?
Đi về thôi, sao không về đi?

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Khuyến)

Vườn Bùi chốn cũ,
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây.
Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây,
Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế.
Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế,
Ôn công rượu nhạt chuốc chiều xuân.
Ngọn gió đông ngảnh lại lệ đầm khăn
Tính thương hải tang điền qua mấy lớp?
Ngươi chớ giận Lỗ hầu chẳng gặp.
Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi
Muốn về sao chẳng về đi?
Rút từ Yên Đổ tiến sĩ thi tập (VHv.1864), Quế Sơn Tam nguyên thi tập (A.3160), Quế Sơn thi tập (A.469). Tiêu đề trong Quế Sơn Tam nguyên thi tập chép là Bùi viên ca.

Vườn Bùi tức thôn Vị Hạ, xã Yên Đổ, nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục (Nam Hà), quê hương Nguyễn Khuyến.

Nguồn: Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
Bản dịch của chính tác giả, rút từ Quế Sơn Tam nguyên thi tập (A.3160), Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn: Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
[1] Quế Sơn Tam nguyên thi tập chép “Ngũ thập niên”.
[2] Quế Sơn thi tập chép là “trúc trúc” 竹竹.
[3] Tên một huyện cũ thuộc tỉnh Giang Tây (Trung Quốc). Đào Tiềm tự Uyên Minh đỗ tiến sĩ, làm huyện lệnh Bành Trạch, khi treo ấn từ quan có làm bài Quy khứ lai từ. Chỗ ông ngồi thường treo cây đàn mộc không dây, diễn tả ý nghĩa triết học: sự thô phác, không lời mới đạt tới cái chân, cái bản thể.
[4] Tức Tư Mã Quang, khi cáo quan về ở ẩn chỉ uống rượu tiêu sầu.
[5] Tức Lỗ Bình Công. Sách cũ nói Mạnh Tử không gặp được Lỗ Bình Công để có cơ hội giúp dân trị nước cũng là do mệnh trời, không có gì đáng ân hận. Câu thơ ngầm ý nhà thơ phải cáo quan cũng là do thời thế xui nên mà thôi.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Bùi viên cựu trạch ca [Bùi viên ca]