14/12/2019 01:46Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kinh Nam binh mã sứ thái thường khanh Triệu công đại thực đao ca
荊南兵馬使太常卿趙公大食刀歌

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 11/03/2014 21:07

 

Nguyên tác

太常樓船聲嗷嘈,
問兵刮寇趨下牢。
牧出令奔飛百艘,
猛蛟突獸紛騰逃。
白帝寒城駐錦袍,
玄冬示我胡國刀。
壯士短衣頭虎毛,
憑軒拔鞘天為高。
翻風轉日木怒號,
冰翼雪澹傷哀猱。
鐫錯碧罌鷿鵜膏,
鋩鍔已瑩虛秋濤,
鬼物撇捩辭坑壕。
蒼水使者捫赤絛,
龍伯國人罷釣鼇。
芮公回首顏色勞,
分閫救世用賢豪。

趙公玉立高歌起,
攬環結佩相終始,
萬歲持之護天子。
得君亂絲與君理,
蜀江如線如針水。
荊岑彈丸心未已,
賊臣惡子休幹紀。
魑魅魍魎徒為耳,
妖腰亂領敢欣喜。
用之不高亦不庳,
不似長劍須天倚。
籲嗟光祿英雄弭,
大食寶刀聊可比。
丹青宛轉麒麟裏,
光芒六合無泥滓。

Phiên âm

Thái thường lâu thuyền thanh ngao tào,
Vấn binh quát khấu xu Hạ Lao[1].
Mục xuất lệnh bôn phi bách tao,
Mãnh giao đột thú phân đằng đào.
Bạch Đế hàn thành trú cẩm bào,
Huyền đông thị ngã hồ quốc đao.
Tráng sĩ đoản y đầu hổ mao,
Bằng hiên bạt sao thiên vi cao.
Phiên phong chuyển nhật mộc nộ hào,
Băng dực tuyết đạm thương ai nhu.
Tuyên thác bích anh tịch đề cao,
Mang ngạc dĩ oánh hư thu đào,
Quỷ vật phiết liệt từ khanh hào.
Thương Thuỷ sứ giả[2] môn xích thao,
Long Bá[3] quốc nhân bãi điếu ngao.
Nhuế Công[4] hồi thủ nhan sắc lao,
Phân khổn cứu thế dụng hiền hào.

Triệu công ngọc lập cao ca khởi,
Lãm hoàn kết bội tương chung thuỷ,
Vạn tuế trì chi hộ thiên tử.
Đắc quân loạn ty dữ quân lý,
Thục giang như tuyến như châm thuỷ.
Kinh sầm đàn hoàn tâm vị dĩ,
Tặc thần ác tử hưu cán kỷ.
Ly mị võng lượng đồ vi nhĩ,
Yêu yêu loạn lĩnh cảm hân hỉ.
Dụng chi bất cao diệc bất bí,
Bất tự trường kiếm tu thiên ỷ.
Dụ ta quang lộc anh hùng nhị,
Đại Thực bảo đao liêu khả tỷ.
Đan thanh uyển chuyển Kỳ Lân lý,
Quang mang lục hợp vô nê chỉ.

Dịch nghĩa

Thuyền lầu của quan thái thường tiếng ồn ào,
Hỏi ra mới biết là đang chuyển quân đi dẹp loạn vùng Hạ Lao.
Quan qua, huyện lệnh chạy trăm chiếc thuyền lướt tới,
Thú dữ rồng thiêng trốn tán loạn.
Thành Bạch Đế vắng nơi dưỡng áo gấm,
Vào mùa đông đưa cho tôi coi cái dao làm từ nước Hồ.
Hùng dũng thay áo chẽn, đầu đội mũ lông hổ,
Tựa xe, tuốt vỏ làm trời cao thêm.
Gió vù, nắng xế, cây thét gào,
Băng nâng, tuyết đỡ làm cho con vượn kêu thương.
Lau chùi có cao vịt xiêm chứa trong bình biếc,
Lưỡi sắc đã uốn như sóng mùa thu.
Quái vật ùa chạy ra khỏi hào,
Sứ giả Thương Thuỷ mân mê giải mũ đỏ.
Người nước Long Bá thôi không câu cá ngao,
Quay đầu nhìn Nhuế Công vẻ mặt đớn đau.
Chia vùng trách nhiệm ra mà cứu đời, cần phải có người tài.

Ông Triệu đứng thẳng ca hát vang,
Nắm vòng, cột dây để làm cho rõ sự tình,
Cả ngàn đời vẫn theo, đó là giúp nhà vua.
Có được ông, tơ vò sẽ được gỡ rối,
Sông Thục như sợi chỉ, như dòng kim.
Núi gai, hòn đạn lòng chưa nguôi,
Bề tôi phản chúa, đứa con xấu thôi đừng làm càn.
Cũng như loài yêu ma quỷ quái mà thôi,
Lưng bọn yêu quái, cổ bọn phản loạn dám nhâng nhâng.
Đem dùng nó không cao mà cũng không thấp,
Không giống gươm dài cần dựa thế.
Chu choa thật là vinh quang tài giỏi,
Có cái gì sánh ngang được với đao quý Đại Thực.
Tranh vẽ trong gác Kỳ Lân kia thật linh động,
Rực rỡ trong trời đất chẳng hề vương bụi.

Bản dịch (của Bản dịch của Nhượng Tống)

Thuyền lầu thái thượng tiếng ồn ào
Đem quân dẹp giặc tới Hạ Lao
Quan lại tới tấp ra đón chào
Hùm thiêng rồng độc trốn nhao nhao
Thành Bạch lạnh tạm đem quân vào
Đông đưa tôi coi thanh đại đao
Áo nẹp, mũ dạ hăng hái sao
Tráng sĩ tuốt vỏ trời nhích cao
Gió lật, nắng lộn, cây thét gào
Mây mờ, tuyết cuốn, vượn xôn xao
Lau đao, bình biếc chứa sẵn cao
Lưỡi sáng, sóng thu coi khác nào
Ma quỷ chen nhau vượt khỏi hào
Người nước Long Bá thôi câu ngao
Nhuế Công quay lại vẻ nôn nao
Cứu đời phải cậy mặt anh hào

Ông Triệu đứng dậy ca hát vang
Nắm vòng, riết dây, cầm đao sang
Muôn năm gìn giữ cho ngai vàng
Tơ rối đao này chặt đứt toang
Sông Thục nhỏ như đường chỉ vương
Lòng tham chiếm giữ, người một phương
Bảo cho quân giặc chớ rông quàng
Yêu, ma, quỷ, quái chẳng ra tuồng
Đao này sẽ chém cho tan xương
Không giống gươm dài phải múa mang
Như ông kể thực bậc phi thường
Đao báu hoạ có sánh được ngang
Trên gác Kỳ Lân để tượng vàng
Ngất trời rực rỡ vẻ vinh quang
(Năm 766)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Chỉ Di Lăng thuộc huyện Tiềm Giang, Hồ Bắc. Vùng Sở có Hạ Lao và Thượng Lao.
[2] Theo truyền thuyết, ông Vũ phá núi khai sông, đêm nằm ngủ có chàng trai áo đỏ xưng là Thương Thuỷ sứ giả được lệnh tới hầu.
[3] Theo Liệt tử, chỉ người khồng lồ.
[4] Tên nước thời cổ, đầu đời Chu là một trong nước chư hầu mang tên bà vợ vua, nay là vùng Thiểm Tây, phía nam huyện Đại Lệ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Kinh Nam binh mã sứ thái thường khanh Triệu công đại thực đao ca