31/10/2020 21:07Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ngự chế “Thánh Duyên tự chiêm lễ bát vận”
御製聖緣寺瞻禮八韻

Tác giả: Minh Mệnh hoàng đế - 明命皇帝

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 03/04/2019 22:42

 

Nguyên tác

殘缺昔幾盡,
莊嚴今一新。
祥光凝寶相,
慧日炫金身。
背倚翠花嶠,
面臨小海濱。
松關花笑客,
石徑鳥迎人。
磬韻穿林響,
經聲蹺樹頻。
幽巖應勝畫,
妙景可夷神。
叩祝祈慈壽,
禱求福子民。
敢云能後述,
但得闡前因。

Phiên âm

Tàn khuyết tích cơ tận,
Trang nghiêm kim nhất tân[1].
Tường quang ngưng bảo tướng[2],
Tuệ nhật huyễn kim thân[3].
Bối ỷ Thuý Hoa kiệu,
Diện lâm Tiểu Hải tân[4].
Tùng quan hoa tiếu khách,
Thạch kính điểu nghinh nhân.
Khánh vận xuyên lâm hưởng,
Kinh thanh nhiễu thụ tần.
U nham ưng thắng hoạ,
Diệu cảnh khả di thần.
Khấu chúc kỳ từ thọ[5],
Đảo cầu phúc tử dân.
Cảm vân năng hậu thuật,
Đãn đắc xiển tiền nhân.

Bản dịch của (Không rõ)

Dấu xưa tàn hỏng cả,
Chùa mới đã dựng xong.
Tượng báu mây lành phủ,
Thân vàng ánh tuệ phong.
Sau lưng sườn núi tựa,
Trước mặt bến đầm trông.
Đón khách, chim đường đá,
Đưa người, hoa cửa thông.
Khánh ngân vang núi thẳm,
Kinh đọc quyện cây đồng.
Non vắng xanh tươi vẻ,
Cảnh xinh khoan khoái lòng.
Mẹ già cầu thọ mãi,
Con đỏ hưởng ơn chung.
Dày dặn nhân xưa đó,
Thân này dám kể công!
Bài thơ được khắc trên văn bia chùa Thánh Duyên toạ lạc trên núi Thuý Vân, gần cửa biển Tư Hiền cách thành phố Huế khoảng 40km về phía nam. Chùa do vua Minh Mạng (1820-1840) vẽ kiểu xây dựng, khánh thành vào mùa xuân năm Đinh Dậu (1837).

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, số 8 (142), 2017
[1] Cước chú: “Thử sơ tích thì tự vũ thậm đa, giai Hoàng tổ Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế sở kiến, hậu kinh Tây Sơn tặc tàn huỷ cơ tận. Khứ niên tằng kinh lâm hạnh, niệm danh sơn thắng tích bất khả luân một vô truyền. Huống thử xứ thị ngã Hoàng tổ vị thần dân kỳ phúc, thả khai niên vi Thánh mẫu Hoàng thái hậu thất tuần đại khánh, vi quảng suy từ niệm, sung khoách thánh duyên, ư thị niên thu cát thì vu cựu chỉ kiến tự danh Thánh Duyên tự, ngôn Hoàng tổ lưu tích dã. Cố dư sở chế đối liên vân: Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; Duyên bản hữu nhân, nhân bản hữu duyên, hữu thị duyên nãi khoách thiện nhân chi quảng bị. Hựu ư kỳ hậu sơn yêu kiến nhất các danh Đại Từ các; hậu ư sơn điên kiến nhất tháp danh Điều Ngự tháp. Bản niên chính nguyệt cáo thành, kính phụng chư Thiên Tôn Phật. Nẵng dĩ xuân sơ vị hạ lâm hạnh, tư tam xuân hoà sướng, vạn cơ sảo hạ, thân dịch an dư đăng tư danh thắng. Huy hoàng điện vũ, bảo tướng trang nghiêm, duyệt dịch thánh tâm, khang cường bộ lý, cố dụ dư viết: Hoàng đế khả vị thiện kế thiện thuật hỹ! Dư tiểu tử tạ bất cảm đương, đãn năng thượng phó Hoàng tổ chi thiện tâm, thứ duyệt Hoàng mẫu chi từ niệm, dụ kỳ Thánh mẫu hà linh thượng thọ, gia quốc an ninh, hạ kỵ thần dân hàm mông khang thái, niên phong hà thuận, nội tĩnh ngoại an, thị dư chi tố nguyện giả dã.” 此山昔時寺宇甚多,皆皇祖顯宗孝明皇帝所建,後經西山賊殘毀幾盡。去年曾經臨幸,念名山勝蹟不可淪沒無傳。况此處是我皇祖為臣民求福,且開年為聖母皇太后七旬大慶,爰廣推慈念,充擴聖緣,於是年秋吉時于舊址建寺名聖緣寺,言皇祖留蹟也。故予所製對聯云:聖即是佛,佛即是聖,有是聖方開佛法之崇深;緣本是因,因本是緣,有是緣乃擴善因之廣被。又於其後山腰建一閣名大慈閣,後於山巔建一塔名調御塔。本年正月告成,敬奉諸天尊佛。曩以春初來暇臨幸,茲三春和暢,萬機稍暇,親掖安輿登斯名勝。輝煌殿宇,寶相莊嚴,悅懌聖心,康强步履,顧諭予曰:皇帝可謂善繼善述矣。予小子謝不敢當,但能上副皇祖之善心,次悅皇母之慈念,籲祈聖母遐齡上壽,家國安寧,下暨臣民咸蒙康泰,年豐河順,內靜外安,寔予之素願者也。 (Núi này thời xưa có rất nhiều chùa miếu, đều do đức Hoàng tổ Hiếu Minh hoàng đế xây dựng, sau trải qua trận giặc Tây Sơn, sụp đổ gần hết. Năm trước, ta từng đến chơi, nghĩ rằng danh sơn thắng tích không nên để cho vùi lấp mất đi; huống chi đây là nơi đức Hoàng tổ ta vì dân cầu phúc. Cho nên vào đầu năm sau, nhân để kỷ niệm ngày sinh lần thứ bảy mươi của đức Thánh mẫu Hoàng thái hậu, bèn mở rộng lòng lành, nêu cao duyên thánh, vào ngày tốt mùa thu, ta cho dựng chùa tại nền cũ,(14) gọi là chùa Thánh Duyên, ý nói để giữ lại dấu vết của đức Hoàng tổ vậy. Ta có làm câu đối rằng: Thánh tức là Phật, Phật tức là Thánh, có Thánh kia nên phép Phật mới mở mang rộng rãi; Duyên vốn ở nhân, nhân vốn ở duyên, có duyên ấy thì nhân lành mới lan toả bao la. Lại phía sau ở lưng chừng núi, dựng một gác, gọi là gác Đại Từ; sau nữa ở đỉnh núi, dựng một tháp, gọi là tháp Điều Ngự. Tháng Giêng năm nay làm xong, kính thờ các Phật. Vì lúc ấy đầu xuân chưa rảnh mà đến chơi được; nay ba xuân ấm áp, muôn việc thảnh thơi, ta thân đẩy xe loan lên chơi danh thắng. Điện chùa rực rỡ, tượng báu trang nghiêm, lòng thánh vui tươi, bước đi khoẻ khoắn, nhìn ta bảo: Có thể nói là hoàng đế khéo nối khéo làm vậy! Ta là đứa con nhỏ, cảm tạ không dám nhận, chẳng qua trên thì nhờ lòng lành của Hoàng tổ, thoả ý tốt của Hoàng mẫu, để cầu cho đức mẹ sống lâu, dưới thì mong thần dân được vui khoẻ, tốt lúa giàu mùa, thuận buồm xuôi gió, trong ấm ngoài êm. Ấy thực là lòng nguyện ước của ta vậy.)
[4] Cước chú: “Tức Hà Trung hải nhi” 即河中海兒 (Tức là vụng Hà Trung - nay gọi là đầm Cầu Hai).
[2] Chùa còn rất nhiều tượng cổ có giá trị cao, tôn trí ở chính điện, “Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh Vương. Mỗi bên gần sát vách thờ năm tượng; tiếp đến vào trong thì thờ hai dãy tượng thập bát La Hán, mỗi bên chín tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ Đề Đạt Ma toạ thiền. Đối qua bên phải có Địa Tạng cầm tích trượng ngồi trên con thanh sư. Vị trí hai tượng này ở giữa hai dãy tượng nói trên” (Hà Xuân Liêm, Những chùa tháp Phật giáo ở Huế, NXB Văn hoá thông tin, 2007, tr. 328).
[3] Chỉ tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì vàng là thứ kim loại không hoại nát, cho nên ví với thân Phật (thân pháp chứ không phải thân vật chất).
[5] Chỉ bà Trần Thị Đương (1769-1846), mẹ của vua Minh Mạng, được tấn tôn Hoàng thái hậu năm 1821, dâng hiệu Nhân Tuyên Từ Khánh Thái hoàng Thái hậu năm 1846.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Minh Mệnh hoàng đế » Ngự chế “Thánh Duyên tự chiêm lễ bát vận”