22/11/2019 20:05Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Mãn giang hồng
滿江紅

Tác giả: Hoàng Cơ - 黃機

Thể thơ: Từ phẩm; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi Vanachi vào 05/02/2008 17:10

 

Nguyên tác

萬灶貔貅,
便直欲、
掃清關洛。
長淮路、
夜亭警燧,
曉營吹角。
綠鬢將軍思飲馬,
黃頭奴子驚聞鶴。
想中原、
父老已心知,
今非昨。

狂鯢剪,
於菟縛。
單于命,
春冰薄。
政人人自勇,
翹關還槊。
旗幟倚風飛電影,
戈鋌射月明霜鍔。
且莫令、
榆柳塞門秋,
悲搖落。

Phiên âm

Vạn táo tỳ hưu,
Tiện trực dục,
Tảo thanh Quan Lạc[1].
Trường Hoài lộ,
Dạ đình cảnh toại,
Hiểu dinh xuy giốc.
Lục mấn tướng quân tư ẩm mã,
Hoàng đầu nô tử kinh văn hạc.
Tưởng trung nguyên,
Phụ lão dĩ tâm tri,
Kim phi tạc.

Cuồng nghê tiễn,
Ư thố phọc.
Thiền Vu mệnh,
Xuân băng bạc.
Chính nhân nhân tự dũng,
Kiều quan hoàn sóc.
Kỳ xí ỷ phong phi điện ảnh,
Qua đĩnh xạ nguyệt minh sương ngạc.
Thả mạc linh,
Du liễu tái[2] môn thu,
Bi dao lạc.

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Xuân Tảo)

Trăm vạn quân hùng,
Chí những muốn,
Dẹp yên đất nước.
Nẻo sông Hoài,
Tối bùng lửa hiệu,
Sớm vang còi rúc.
Tên tướng tóc xanh mong xuống ngựa,
Lũ lính đầu vàng kinh tiếng hạc.
Chắc trung nguyên,
Bô lão dạ đinh ninh,
Nay khác trước.

Kình bị chém,
Hổ chói chặt.
Mạng chúa giặc,
Mảnh băng nứt.
Người người đang đua mạnh,
Đầy thành dựng mác.
Cờ bay trước gió điện loè chớp,
Giáo múa dưới trăng sương sáng quắc.
Chớ để ải,
Dâu liễu giữa mùa thu,
Buồn rời rạc.
Nguồn: Nguyễn Xuân Tảo, Tống từ, NXB Văn học, 1999
[1] Tức Quan Trung và Lạc Dương, hai kinh đô của các triều cũ, thời đó bị giặc Kim chiếm.
[2] Thời xưa cửa ải phía bắc Trung Quốc trồng nhiều dâu và liễu, vì vậy người ta hay gọi là ải dâu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hoàng Cơ » Mãn giang hồng