19/01/2022 10:57Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng sứ lưu biệt thân đệ
奉使留別親弟

Tác giả: Doãn Ân Phủ - 尹恩甫

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 02/08/2008 23:18

 

Nguyên tác

一身北去一南還,
隻影茫然寄馬鞍。
塞遠雲深鴻雁斷,
原頭風急鶺鴒寒。
幾時夜雨連床話,
萬斛鄉愁借酒寬。
我秉節旄君扇枕,
從來忠孝兩全難。

Phiên âm

Nhất thân bắc khứ nhất nam hoàn,
Chích ảnh[1] mang nhiên ký mã an.
Tái viễn[2] vân thâm hồng nhạn[3] đoạn,
Nguyên đầu phong cấp tích linh[4] hàn.
Kỷ thời[5] dạ vũ liên sàng thoại,
Vạn hộc hương sầu tá tửu khoan.
Ngã bỉnh[6] tiết mao quân phiến chẩm[7],
Tòng lai trung hiếu lưỡng toàn nan.

Dịch nghĩa

Một người đi về phương bắc, một người về nam,
Chiếc bóng bâng khuâng gửi trên yên ngựa.
Ngoài ải xa mây nhiều, chim hồng nhạn lẻ loi,
Đầu đồng bằng gió mạnh, con tích linh lo lắng.
Bao phen đêm mưa, liền giường cùng nhau trò chuyện,
Muôn hộc tình buồn nhớ quê hương, mượn chén rượu uống cho khuây khoả.
Ta đi cầm cờ tiết mao, người về coi việc gối quạt,
Xưa nay trung, hiếu khó toàn vẹn được cả hai.

Bản dịch của Trương Việt Linh

Người thì đi bắc kẻ về nam
Yên ngựa một mình phận phải cam
Ngoài ải mây nhiều hồng quạnh quẽ
Trong đồng gió mạnh sáo hoang mang
Tình quê muôn mối khuây nhờ rượu
Mưa gió bao phen chuyện cạnh giường
Mao tiết phần ta, người gối quạt
Xưa nay trung hiếu khó chung đường
Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

[1] An Nam chí lược chép là “song ảnh” 雙影.
[2] An Nam chí lược chép là “tái ngoại” 塞外.
[5] An Nam chí lược chép là “kỷ phiên” 幾番.
[6] An Nam chí lược chép là “ngã thủ” 我守.
[3] Hồng nhạn ví với anh em.
[4] Chim giống chim yến. Kinh thi, thơ Tích linh khuyên anh em giúp nhau khi hoạn nạn.
[7] Tức quạt nồng đắp lạnh, về nhà hầu cha mẹ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Doãn Ân Phủ » Phụng sứ lưu biệt thân đệ