20/09/2019 10:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Yên ca hành
燕歌行

Tác giả: Cao Thích - 高適

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 15/02/2006 17:34

 

Nguyên tác

漢家煙塵在東北,
漢將辭家破殘賊。
男兒本自重橫行,
天子非常賜顏色。
摐金伐鼓下榆關,
旌旗逶迤碣石間,
校尉羽書飛瀚海,
單于獵火照狼山。
山川蕭條極邊土,
胡騎憑陵雜風雨,
戰士軍前半死生,
美人帳下猶歌舞。
大漠窮秋塞草衰,
孤城落日鬥兵稀,
身當恩遇常輕敵,
力盡關山未解圍。
鐵衣遠戍辛勤久,
玉箸應啼別離後,
少婦城南欲斷腸,
征人薊北空回首。
邊庭飄颻那可度,
絕域蒼黃更何有?
殺氣三時作陣雲,
寒聲一夜傳刁鬥。
相看白刃血紛紛,
死節從來豈顧勳,
君不見沙場征戰苦,
至今猶憶李將軍。

Phiên âm

Hán gia[1] yên trần tại đông bắc,
Hán tướng từ gia phá tàn tặc.
Nam nhi bản tự trọng hoành hành,
Thiên tử phi thường tứ nhan sắc.
Song kim phạt cổ hạ Du Quan[2],
Tinh kỳ uy di Kiệt Thạch[3] gian.
Hiệu uý vũ thư[4] phi hãn hải[5],
Thiền Vu[6] lạp hoả chiếu Lang San[7].
Sơn xuyên tiêu điều cực biên thổ,
Hồ kỵ bằng lăng tạp phong vũ.
Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.
Đại mạc cùng thu tái thảo suy,
Cô thành lạc nhật đấu binh hy.
Thân đương ân ngộ thường khinh địch,
Lực tận quan sơn vị giải vi.
Thiết y viễn thú tân cần cửu,
Ngọc trợ ưng đề biệt ly hậu.
Thiếu phụ thành nam dục đoạn trường,
Chinh nhân Kế Bắc[8] không hồi thủ.
Biên đình phiêu dao na khả độ,
Tuyệt vực thương mang cánh hà hữu.
Sát khí tam thời tác trận vân,
Hàn thanh nhất dạ truyền điêu đẩu[9].
Tương khan bạch nhận tuyết phân phân,
Tử tiết tòng lai khởi cố huân!
Quân bất kiến sa trường chinh chiến khổ,
Chí kim do ức Lý tướng quân[10].

Dịch nghĩa

Miền ông bắc nhà Hán nổi cơn khói bụi,
Tướng Hán từ giã nhà, đi dẹp quân giặc tàn bạo
Tài trai xông pha chiến trường vẫn đáng trọng,
Thiên tử cũng kính nể khác thường!
Khua chiêng, dóng trống kéo xuống Du Quan
Hàng cờ xí uốn lượn quanh vùng Kiệt Thạch
Hiệu uý mang lệnh quân, có cài lông gà chạy như bay trên bể cát
Lửa săn của chúa Thiền Vu sáng rọi vào núi Lang San.
Cảnh núi sông xơ xác đến tận ngoài biên giới,
Đoàn kỵ binh Hồ xông xáo như mưa gió!
Ngoài mặt trận chiến sĩ sống thác như chơi,
Dưới trướng, gái đẹp vẫn còn múa hát.
Bể cát mênh mông, cảnh thu già, cỏ trên ải xác xơ
Toà thành trơ vơ, dưới bóng tà, quân chiến đấu thưa thớt
Thân được ân trên trọng đãi, thường hay khinh địch
Sức kiệt rồi, nơi quan ả vẫn chưa giải được vây.
Kẻ mặc áo sắt đi thúc nơi xa, gian khổ đã bao ngày
Những hàng lệ ngọc đã rõ nhiều sau khi ly biệt
Thiếu phụ ở phía nam thành, ruột muốn đứt
Chinh phu miền Kế Bắc ngoái cổ trong hoài!
Chốn biên đình xa xôi hiu hắt dễ đâu đến được
Nơi tuyệt vực mênh mông nào còn có gì ?
sát khí suốt ba mùa bốc thành mây trận
Tiếng điêu đẩu lạnh lùng, thâu đêm vẳng tới.
Nhìn nhau lưỡi gươm sáng loáng, tuyết bay tơi bời
Xưa nay những người tử tiết há nghĩ đến công lênh
Anh chảng thấy bao nhiêu chiến sĩ gian khổ trên sa trường
Đến nay còn nhớ tướng quân họ Lý.

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Bích Ngô)

Nhà Hán, giặc tràn vào đông bắc,
Tướng Hán giã nhà đi giết giặc.
Nam nhi vốn trọng chí tung hoành,
Thiên tử vui mừng rạng nhan sắc.
Quân xuống cửa Du chiêng trống vang,
Kéo qua núi Kiệt cờ rợp đường,
Lệnh quân khẩn cấp qua biển cát,
Khói lửa Thiền Vu rực núi Lang.
Non sông xơ xác khắp biên thổ,
Quân Hồ phi ngựa như mưa gió.
Chiến sĩ ra trận nửa tử sinh,
Mỹ nhân dưới trướng còn hát múa.
Sa mạc cuối thu rụi cỏ cây,
Biên thành chiều tối quân ít thay!
Thân chịu ơn trên, khinh lũ giặc,
Kiệt sức, quan san chưa giải vây.
Áo sắt trấn xa gian khổ miết,
Lệ ngọc tuôn rơi sầu ly biệt.
Thiếu phụ thành nam nhớ dàu dàu,
Chinh phu Kế Bắc buồn da diết.
Dễ đâu tới được chốn biên đình,
Cõi vắng hoang lương không kể xiết.
Ba mùa sát khí tựa mây đùn,
Suốt đêm lạnh lùng mõ canh thét.
Cùng nhìn lưỡi kiếm tuyết bay tung,
Xưa nay tử tiết há hòng công.
Ngươi chẳng thấy sa trường chinh chiến khổ,
Đến nay còn nhớ Lý anh hùng.
Yên ca hành: Một khúc hát xưa.

(Năm 734)
[1] Nhà Hán, ám chỉ nhà Đường.
[2] Tức Sơn Hải quan, thuộc huyện Lâm Du, tỉnh Hà Bắc.
[3] Dãy núi ở huyện Xương Lê, tỉnh Hà Bắc.
[4] Lông gà: đời xưa những công văn khẩn cấp đều có cài chiếc lông gà làm hiệu chạy hoả tốc.
[5] Vùng sa mạc ở biên giới tỉnh Tuy Viễn.
[6] Tên chúa Hung Nô.
[7] Núi Lang Cư Tư, miền tây bắc nội Mông Cổ.
[8] Vùng phía bắc tỉnh Hà Bắc ngày nay.
[9] Đồ quân dụng bằng đồng, đựng được một đấu gạo, ngày dùng để nấu ăn, đêm gõ để cầm canh trong trại.
[10] Tức Lý Quảng, danh tướng đời Hán, từng đóng giữ biên cương, người ta gọi là tướng nhà trời (phi tướng).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Cao Thích » Yên ca hành