29/09/2020 04:26Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Quy triều hoan
歸朝歡

Tác giả: Tô Thức - 蘇軾

Thể thơ: Từ phẩm; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi U Cốc Khách vào 27/07/2014 00:04

 

Nguyên tác

我夢扁舟浮震澤。
雪浪搖空千頃白。
覺來滿眼是廬山,
倚天無數開青壁。
此生長接浙。
與君同是江南客。
夢中遊,
覺來清賞,
同作飛梭擲。

明日西風還挂席。
唱我新詞淚沾臆。
靈均去後楚山空,
澧陽蘭芝無顏色。
君才如夢得。
武陵更在西南極。
竹枝詞,
莫搖新唱,
誰謂古今隔。

Phiên âm

Ngã mộng biển chu phù Chấn trạch[1].
Tuyết lãng dao không thiên khoảnh bạch.
Giác lai mãn nhãn thị Lư sơn[2],
Ỷ thiên vô số khai thanh bích.
Thử sinh trường tiếp chiết[3].
Dữ quân đồng thị Giang Nam khách.
Mộng trung du,
Giác lai thanh thưởng,
Đồng tác phi thoa trịch.

Minh nhật tây phong hoàn quải tịch.
Xướng ngã tân từ lệ triêm ức.
Linh Quân[4] khứ hậu Sở sơn không,
Lễ Dương[5] lan chỉ[6] vô nhan sắc.
Quân tài như Mộng Đắc[7].
Vũ Lăng[8] cánh tại tây nam cực.
Trúc chi từ[9],
Mạc Dao[10] tân xướng,
Thuỳ vị cổ kim cách.

Bản dịch của Nam Long

Chằm Chấn ta mơ giong mảng nhỏ.
Sóng tuyết trắng phau muôn lớp vỗ.
Tỉnh ra ngợp mắt thấy Lư sơn,
Nương trời vách đá xanh vô số.
Đời nhiều phen sấp ngửa,
Khách Giang Nam cả người và tớ.
Lướt trong mơ,
Tỉnh ra say ngắm,
Đổi đắp như thoi bổ.

Hôm tới buồm giương thu lộng gió,
Ngâm ngợi từ ta đôi lệ rỏ.
Linh Quân đi mất Sở non trơ,
Lễ Dương lan chỉ đều phai úa.
Mộng Đắc như người đó.
Tây Nam một góc Vũ Lăng ở.
Trúc Chi Từ,
Mạc Dao bài mới,
Ai bảo không như cũ.
Tháng 6 năm Thiệu Thánh nguyên niên (1094) đời Tống Triết Tông, Tô Thức bị biếm đi Huệ Châu (nay thuộc Quảng Đông), tháng 7 đi qua Cửu Giang chào từ biệt Tô Kiên, làm bài từ này. Tô Kiên tự Bá Cố, hiệu Hậu Hồ cư sỹ, người Tuyền Châu (nay là Phúc Kiến), giao tình sâu đậm với Tô Thức, xướng hoạ với nhau rất nhiều.

Toàn Tống từ chú phía dưới như sau: “Công thường hữu thi dữ Tô Bá Cố, kỳ tự viết: Tích tại Cửu giang, dữ Tô Bá Cố xướng hoạ, kỳ lược viết: ‘Ngã mộng thiên chu phù Chấn trạch, Tuyết lãng hoành giang thiên khoảnh bạch. Giác lai mãn nhãn thị Lư sơn, Ỷ thiên vô số khai thanh bích.’ Cái thực mộng dã. Nhiên công thi phức vân: ‘Thiên chu Chấn trạch định hà thì, Mãn nhãn Lư sơn giác hựu phi.‘” 公嘗有詩與蘇伯固,其序曰:昔在九江,與蘇伯固唱和,其略曰:「我夢扁舟浮震澤,雪浪橫江千頃白。覺來滿眼是廬山,倚天無數開青壁。」蓋實夢也。然公詩複雲:「扁舟震澤定何時,滿眼廬山覺又非。」(Ông làm thơ với Tô Bá Cố viết tựa rằng: Hồi ở Cửu Giang, xướng hoạ với Tô Bá Cố, đại khái thơ rằng: “Chằm Chấn ta mơ giong mảng nhỏ, Sóng tuyết trắng sông nghìn lớp vỗ. Tỉnh ra ngợp mắt thấy Lư Sơn, Nương trời vách đá xanh vô số.” Đó thật là mơ vậy. Nhưng thơ ông lại rằng: “Thuyền con chằm Chấn định bao giờ, Ngợp mắt Lư Sơn thực lại mơ.”)

Tăng Quý Ly đời Tống viết trong Đĩnh Trai thi thoại về bài từ này, cho rằng: “Vì tiễn Bá Cố đi Lễ Dương nên dùng các sự tích của Linh Quân, Mộng Đắc.”

[1] Tên đầm thời cổ, nay là Thái Hồ ở Giang Tô.
[2] Nằm ở phía bắc Giang Tây, sừng sững cạnh hồ Phiên Dương và bờ Trường Giang.
[3] Vội vã, bôn ba. Chiết là gạo đã vo. Mạnh tử - Vạn chương hạ: “Khổng tử chi khứ Tề, tiếp chiết nhi hành” 孔子之去齊,接淅而行 (Khổng tử vội vã rời nước Tề, mang theo gạo mới vo chưa kịp nấu mà đi).
[4] Cách tự xưng trong Ly tao của Khuất Nguyên, nhà thơ lớn nước Sở thời Chiến Quốc.
[5] Nay là huyện Lễ thuộc Hồ Nam.
[6] Đều là tên các loại cỏ thơm. Trong Cửu ca - Tương phu nhân 九歌-湘夫人 của Khuất Nguyên có câu: “Nguyên hữu chỉ hề Lễ hữu lan” 沅有芷兮澧有蘭.
[7] Tên tự của Lưu Vũ Tích đời Đường, từng bị biếm đi Lãng Châu (nay thuộc Thường Đức, Hồ Nam).
[8] Tên cổ của Lãng Châu đời Đường.
[9] Vốn là dân ca vùng phía đông Tứ Xuyên, khi Lưu Vũ Tích nhận chức ở Hồ Nam, thường bắt chước Cửu ca của Khuất Nguyên mà ra sức nghiên cứu dân ca địa phương, làm ra 9 bài Trúc chi từ.
[10] Dân tộc thiểu số thời cổ phân bố ở vùng Trường Sa, Vũ Lăng, Lễ Dương.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tô Thức » Quy triều hoan