01/11/2020 00:28Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lịch sử nước ta

Tác giả: Hồ Chí Minh - 胡志明

Thể thơ: Lục bát; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hiện đại
Đăng bởi Vanachi vào 09/03/2007 10:39

 

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.

Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương[1].
An Dương Vương[2] thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng[3] có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian[4],
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu[5] tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương[6].
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn[7].
Anh hùng thay ông Lý Bôn[8],
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế[9] đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm[10],
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân[11],
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng[12],
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh[13] hai đời.
Lê Đại Hành[14] nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược[15] hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn[16] là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt[17] là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.

Nhà Trần[18] thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly[19], lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen[20].
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo[21] cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản[22] là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.

Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm[23] giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn[24],
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động[25] nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông[26],
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.

Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung[27] đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua[28].
Cuối đời mười sáu[29] Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì[30] khá lâu[31].
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.

Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc[32] nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền[33].
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ[34] là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân[35],
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long[36] lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi[37] với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên[38],
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.

Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu[39] với Nguyễn Tri Phương[40],
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương[41],
Bọn ông Tán Thuật[42] nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám[43] đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa[44] tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ[45] im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn[46] đó, Đô Lương[47] đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.

Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước[48] rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà[49], Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà[50].
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

Những năm quan trọng:

Trước Tây lịch
-2879 - Hồng Bàng
-111 - Tàu lấy nước ra lần đầu

Sau Tây lịch
40 - Hai Bà Trưng đánh Tàu
248 - Bà Triệu ẩu khởi nghĩa
544 - Vua Lý đánh Tàu
603 - Tàu lấy nước ta
939 - Vua Ngô khởi nghĩa
968 - Đời vua Đinh (12 năm)
981 - Đời vua Tiền Lê (29 năm)
1010 - Đời vua Hậu Lý (215 năm)
1073 - Lý Thường Kiệt đánh Tàu
1225 - Đời vua Trần (175 năm)
1283 - Trần Hưng Đạo đánh Tàu
1407 - Tàu lấy nước ta
1427 - Vua Lê khởi nghĩa
1543 - Đời vua Hậu Lê (360 năm)
1545 - Vua Lê Chúa Trịnh
1771 - Đời vua Tây Sơn (24 năm)
1789 - Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu
1794 - Gia Long thông với Tây
1847 - Tây bắt đầu đánh nước ta
1862 - Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây
1889 - Ông Đề Thám khởi nghĩa
1893 - Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
1916 - Trung Kỳ khởi nghĩa
1917 - Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
1930 - Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa
1940 - Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
1941 - Nam Kỳ khởi nghĩa
1945 - Việt Nam độc lập
Đầu năm 1942

Để giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết và tham gia Mặt trận Việt Minh làm cách mạng, giành độc lập cho Tổ quốc, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng đã sáng tác bài diễn ca Lịch sử nước ta theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu và một bảng ghi “Những năm quan trọng” kèm theo. Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2-1942.

Nội dung Lịch sử nước ta ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc từ thời Hồng Bàng dựng nước đến năm 1942 khi tác phẩm ra đời, ca ngợi sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, các anh hùng tiêu biểu. Qua tác phẩm, tác giả khẳng định truyền thống quý báu của dân tộc: yêu nước, đoàn kết, anh hùng. Truyền thống yêu nước đó đang được nhân dân tiếp tục phát huy trong giai đoạn chống thực dân Pháp với những tấm gương anh hùng tiêu biểu.

Tác phẩm viết bằng thể thơ lục bát, dễ đọc, dễ nhớ. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, nó có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân, góp phần cổ vũ nhân dân đoàn kết, hăng hái tham gia cách mạng và tăng lòng tin vững chắc vào thắng lợi của cách mạng.

Nguồn:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
2. Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 38), NXB Khoa học Xã hội, 2000
[1] Chỉ giặc Ân trong truyền thuyết Thánh Gióng, tức Phù Đổng thiên vương.
[2] Thục Phán dựng nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương.
[3] Hai chị em ruột Trưng Trắc và Trưng Nhị, con quan Lạc tướng mê Linh tức là vùng Hạ Lôi (An Lăng, ngoại thành Hà Nội ngày nay). Tháng 3 năm 40, Hai Bà phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát, đánh thắng bọn thống trị nhà Đông Hán, hiên ngang phủ định cái quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán.
[4] Chỉ Tô Định và Mã Viện, bọn xâm lược nhà Hán.
[5] Triệu Thị Trinh quê miền núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hoá. Năm 248, Triệu Ẩu lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa, tiến công bọn quan lại nhà Ngô.
[6] Để lại tiếng thơm.
[7] Hay thôn tính, có nghĩa, chiếm mất, nuốt mất.
[8] Tức Lý Bí, quê ở Long Hưng (có lẽ là vùng Vĩnh Phú ngày nay), sau khi dẹp giặc Lương, xưng là Lý Nam Đế, lấy tên nước là Vạn Xuân. Việc xưng đế và đặt niên hiệu riêng phủ định quyền làm “chủ toàn thiên hạ” của phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, khẳng định Việt Nam là một dân tộc độc lập, làm chủ vận mệnh của mình.
[9] Tức Mai Thúc Loan, xuất thân nông dân, anh hùng đất châu Hoan. ông người đen, nổi tiếng giỏi võ, cầm đầu nghĩa quân chống lại ách đô hộ nhà Đường, xưng đế và đóng đô ở Vạn An (thuộc Nghệ An ngày nay).
[10] Thuộc tỉnh Hà Tây ngày nay. Ngô Quyền (899-944) gắn liền với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
[11] 12 tướng nổi lên giữ 12 vùng.
[12] Đinh Bộ Lĩnh, tức Đinh Tiên Hoàng, người nêu cao ngọn cờ thống nhất quốc gia dẹp loạn Mười hai sứ quân.
[13] Trải qua.
[14] Tức Lê Hoàn, người chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Tống, giành chiến thắng có ý nghĩa lớn và giữ vững nền độc lập.
[15] Chỉ Lê Long Đĩnh, vua đời thứ hai và cuối cùng của nhà Tiền Lê.
[16] Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ, tác giả Chiếu dời đô (1010).
[17] Lý Thường Kiệt (1019-1105) quê Thái Hoà (Hà Nội), giữ chức Phụ quốc thái uý đời Lý Nhân Tông, tương truyền là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà và đánh tan mưu đồ xâm lược của nhà Tống với nước ta (tháng 3-1077).
[18] Ngày 10 tháng giêng năm 1226, do sự bố trí của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông). Nhà Trần bắt đầu từ đây.
[19] Tức Triều Tiên.
[20] Trong bản in lần thứ 2 sửa thành “nêm”.
[21] Tức Trần Quốc Tuấn, tác giả Hịch tướng sĩ. Trong kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285), ông được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân. Trong kháng chiến lần thứ ba (1287-1288), tên tuổi ông gắn liễn với chiến thắng Bạch Đằng.
[22] Tức Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Khi quân Nguyên xâm lược nước ta, mới 16 tuổi nên Quốc Toản không được dự Hội nghị Bình Than bàn việc. Cậu bé uất ức tay bóp nát quả cam lúc nào không biết. Sau đó cậu tập hợp binh mã, cùng cha anh đánh giặc, trở thành một tướng tài lập nhiều chiến công.
[23] Lúc này là đời Minh Thành Tổ. Ngày 19-11-1406, quân Minh qua biên giới tiến vào nước ta. Năm 1407, họ Hồ để mất nước vào tay nhà Minh.
[24] Năm 1416, Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín làm lễ tuyên thệ tại rừng núi Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Ngày 3 tháng giêng năm 1428, quân Minh bị quét sạch khỏi nước ta.
[25] Tức Tốt Động, thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Tây ngày nay, nơi diễn ra một trong những trận quan trọng của khởi nghĩa Lam Sơn.
[26] Vào đầu đời Lê, chế độ phong kiến tập quyền đã có những phát triển mạnh mẽ, nhất là nửa sau thế kỷ XV dới triều Lê Thánh Tông (1460-1497).
[27] Thời cát cứ Trịnh-Mạc, Trịnh-Nguyễn, nhân dân chìm trong nội chiến liên miên, kéo dài từ thế kỷ XVI qua thế kỷ XVIII.
[28] Chiến tranh
[29] Thế kỷ XVI.
[30] Chia nhau quyền trị vì. Từ cuối thế kỷ XVI, sau khi thắng nhà Mạc, họ Trịnh vẫn giữ nghĩa tôn lê, nhưng thực tế nắm toàn bộ quyền chính. Ngôi vua của họ Lê chỉ là hư vị, ngôi chúa họ Trịnh mới có thực quyền.
[31] 216 năm.
[32] Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ.
[33] Treo ngược, tức cứu dân đang bị treo ngược.
[34] Năm 1788, Nguyễn Huệ xưng hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung.
[35] Bùi Thị Xuân, một nữ danh tướng của Tây Sơn, vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu.
[36] Tức Nguyễn Ánh, con cháu chúa Nguyễn ở Đàng Trong trước đây, từ năm 1790 bắt đầu đánh phá phạm vi cai quản của Nguyễn Lữ. Sau khi Nguyễn Huệ chết, Tây Sơn bắt đầu suy thoái và có lục đục nội bộ. Lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Ánh đã chiếm cả miền Nam từ Bình Thuận trở vào, tới tháng 7-1802 thì chiếm được Thăng Long.
[37] Phải và trái. Nhà Nguyễn nhiều lần tranh luận phải trái với giặc Pháp vì chúng giải thích Hiệp ước Véc-xai năm 1789 một cách sai trái nhằm hợp pháp hoá việc xâm lược nước ta. Chúng liên tiếp cử sứ thần sang thương thuyết, đe doạ, lại cho chiến hạm tới thị uy, đến tháng 7-1857 thì quyết định đánh Việt Nam.
[38] Tự Đức thập nhất niên là năm 1858. Đó là năm thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Trong phần Những năm quan trọng, có ghi “Năm 1847... Tây bắt đầu đánh ta”. Ở đây, tác giả nói đến sự kiện hai chiến hạm Pháp vào vùng bể Đà Nẵng đã ngang nhiên bắn đắm mấy chiến thuyền Việt Nam.
[39] Năm 1883, Pháp đánh thành Hà Nội lần hai, gửi tối hậu thư đòi tổng đốc thành Hà Nội khi đó là Hoàng Diệu nộp thành, nhưng không chờ trả lời đã đánh luôn. Hoàng Diệu chống cự không được, thắt cổ tự tử.
[40] Năm 1873, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, Nguyễn Tri Phương trấn thủ thành đã chống cự quyết liệt, sau bị thương và bị bắt. Giặc băng bó vết thương cho ông nhưng ông không chịu để cho chữa, nhịn ăn mà chết.
[41] Tháng 7-1885, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra sơn phòng tỉnh Quảng Trị, xây dựng căn cứ kháng chiến, thảo Hịch Cần vương kêu gọi nhân dân cứu nước, giúp vua. Phong trào Cần Vương chống Pháp nổ ra khắp Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt nhưng phong trào vẫn tiếp diễn tới cuối thế kỷ XIX.
[42] Tức Nguyễn Thiện Thuật, người lãnh đạo khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889), khởi nghĩa lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ khi đó.
[43] Còn gọi là Đề Thám (1864-1913), một nông dân tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Năm 1888, ông tham gia nghĩa quân Đề Kiều, sau ông kế nghiệp Đề Kiều lập căn cứ địa và là lãnh tụ khởi nghĩa Yên Thế (1995-1913, Bắc Giang ngày nay). Năm 1913, ông bị bắt, phong trào bị dập tắt.
[44] Cuối năm 1907, Nghĩa Hưng, một tổ chức bí mật của Hoàng Hoa Thám, chuẩn bị khởi nghĩa cướp thành Hà Nội, vận động một số binh lính, bồi bếp đầu độc lính Pháp. Việc bại lộ, giặc Pháp khủng bố, xử chém những người tham gia.
[45] Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ngày 23-11-1940 theo kế hoạch của Xứ uỷ Nam Kỳ.
[46] Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra ngày 27-9-1940 do Đảng bộ Đảng Cộng sản ở Bắc Sơn lãnh đạo.
[47] Cuộc nổi dậy của Độ Cung ở Đô Lương năm 1941 đã giết được tên đội Pháp, sau đó Đội Cung kéo quân về Nghệ An toan mở rộng căn cứ thì bị bắt và hy sinh.
[48] Pháp bị phát-xít Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
[49] Tức Hà Lan.
[50] Chiến tranh ở Thái Bình Dương do Nhật Bản khởi phát, một bộ phận của Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hồ Chí Minh » Lịch sử nước ta