22/10/2019 00:54Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hồi 17

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Lục bát; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 30/06/2005 11:15

 

Gác Quan Âm mạo hiểm gặp mặt,
Am Văn Thù thích ý ngâm thơ.
(Câu 1915-2034)


1915. Có cổ thụ[1], có sơn hồ[2]
Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh.
Tàng tàng[3] trời mới bình minh
Hương hoa, ngũ cúng[4], sắm sanh lễ thường
Đưa nàng đến trước Phật đường
1920. Tam quy[5], ngũ giới[6], cho nàng xuất gia[7]
Áo xanh[8] đổi lấy cà sa[9]
Pháp danh[10] lại đổi tên ra Trạc Tuyền
Sớm khuya tính đủ dầu đèn
Xuân, Thu[11], cắt sẵn hai tên hương trà

1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía[12], dường xa bụi hồng[13]
Nhân duyên[14] đâu lại còn mong?
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi
Phật tiền thảm lấp sầu vùi
1930. Ngày phò thủ tự[15], đêm nhồi tâm hương[16]
Cho hay giọt nước cành dương[17]
Lửa lòng[18] tưới tắt mọi đường trần duyên[19]
Nâu sồng từ trở màu thuyền
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu

1935. Quan phòng, then nhặt, lưới mau
Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người
Gác kinh[20], viện sách[21], đôi nơi
Trong gang tấc, lại gấp mười quan san
Những là ngậm thở nuốt than
1940. Tiểu thư phải buổi vấn an[22] về nhà
Thừa cơ, Sinh mới lẻn ra
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng
Sụt sùi, dở nỗi đoạn tràng
Giọt châu tầm tã đẵm tràng áo xanh[23]

1945. Đã cam chịu bạc với tình
Chúa xuân để tội một mình cho hoa
Thấp cơ, thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời
Vì ta cho luỵ đến người
1950. Cát lầm ngọc trắng[24], thiệt đời xuân xanh!
Quản chi lên thác xuống ghềnh
Cũng toan sống thác với tình cho xong
Tông đường[25], chút chửa cam lòng
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai

1955. Thẹn mình đá nát vàng phai
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?
Nàng rằng: Chiếc bách song đào
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may
Chút thân quằn quại vũng lầy
1960. Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa đào
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!
Xót vì cầm đã bén dây
Chẳng trăm năm, cũng một ngày duyên ta

1965. Liệu bài mở cửa cho ra
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!
Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu
Lòng người nham hiểm, biết đâu mà lường
Nữa khi giông tố[26] phũ phàng
1970. Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây
Liệu mà xa chạy cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bây giờ kẻ ngược người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non?

1975. Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ!
Cùng nhau kể lể sau xưa
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời
Mặt trông, tay chẳng nỡ rời
1980. Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa
Nhận ngừng, nuốt tủi, đứng ra
Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào
Cười cười nói nói ngọt ngào
Hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi?

1985. Dối quanh, Sinh mới liệu lời:
Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh.
Khen rằng: Bút pháp[27] đã tinh
So vào với thiếp Lan đình[28] nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ
1990. Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!
Thiền trà[29] cạn nước hồng mai[30]
Thong dong nối gót thư trai[31] cùng về
Nàng càng e lệ ủ ê
Rỉ tai, hỏi lại Hoa tì trước sau
1995. Hoa rằng: Bà đến đã lâu
Rón chân đứng nấp độ đâu nữa giờ

Rành rành kẽ tóc chân tơ
Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương
2000. Nỗi ông vất vả, nỗi nàng thở than
Dặn tôi đứng lại một bên
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu
Đàn bà thế ấy, thấy âu một người!
2005. Ấy mới gan! Ấy mới tài!
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!

Người đâu sâu sắc nước đời
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay[32]!
Thực tang bắt được dường này
2010. Máu ghen, ai cũng chau mày nghiến răng
Thế mà im chẳng đãi đằng[33]
Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu[34]
2015. Thân ta, ta phải lo âu
Miệng hùm, nọc rắn, ở đâu chốn này!

Ví chăng chắp cánh cao bay
Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa[35]
Phận bèo bao quản nước sa
2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh[36]
Chỉn e quê khách một mình
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân[37]
2025. Bên mình giắt để hộ thân
Lần nghe canh đã một phần trống ba
Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

Mịt mù dặm cát đồi cây
2030. Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương
Canh khuya thân gái dặm trường
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà
[1] Cây lâu năm.
[2] Núi giả và hồ đào ra để làm cảnh.
[3] Tang tảng sáng.
[4] Năm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đăng, trà, quả.
[5] Ba lễ “quy y” tức quy y phật, quy y pháp, quy y tăng, nghĩa là đem cả tâm và thân mà theo đạo Phật.
[6] Năm điều răn, tức là răn sát sinh, răn ăn rộm, răn tà dâm, răn nói càn, răn uống rượu.
[7] Ra khỏi nhà tức đi tu.
[8] Thanh y, áo các hầu gái mặc.
[9] Áo nhà sư mặc.
[10] Tên đặt theo tập tục tôn giáo. Trạc Tuyền là pháp danh do Hoạn Thư đặt cho Kiều.
[11] Tên hai người đầy tớ gái do Hoạn Thư sai đến Quan Âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn.
[12] Do chữ tư trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan Âm Bồ Tát.
[13] Do chữ hồng trần, tức cõi trần tục, cõi đời.
[14] Duyên vợ chồng, ở đây chỉ duyên phận giữa Kiều và Thúc Sinh.
[15] Chữ viết tay.
[16] Hương lòng. Nén hương dân lên do tấm lòng thành kính.
[17] Do chữ dương chi thuỷ. Theo sách Phật thì Phật Quan Âm có cành dương liễu và bình nước cam lộ, khi muốn cứu ai thì lấy cành dương liễu dúng nước trong bình mà rảy vào người ấy. Ở đây giọt nước cành dương dùng để chỉ phép màu nhiệm của Phật.
[18] Do chữ tâm hoả, chỉ mọi thứ dục vòng do lòng người sinh ra.
[19] Duyên nợ ở cõi trần.
[20] Cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều.
[21] Tức thư viện, phòng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc Sinh.
[22] Hỏi thăm sức khoẻ.
[23] Do chữ thanh sam, chỉ thứ áo xanh mà các nhà nho sĩ xưa thường mặc.
[24] Ý nói Kiều như “ngọc trắng” mà bị cát vùi dập.
[25] Nhà tổ tông. ở đây dùng với nghĩa nối dõi tông đường. Ý nói Thúc Sinh nghĩ mình chưa có con trai để nối dõi tông đường.
[26] Cơn mưa to gió lớn. ở đây chỉ sự giận giữ ghê gớm của Hoạn Thư.
[27] Phép viết chữ.
[28] Do chữ “Lan đình thiếp” là bản bút tích rất tốt của nhà văn Vương Hy Chi, đời Tần.
[29] Nước trà của nhà chùa.
[30] Gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước đỏ hồng, nên gọi là hồng mai.
[31] Nhà đọc sách, cũng như thư viện.
[32] Chữ Hán là thúc thủ. Đặt hai chữ “bó tay” sau chữ “Thúc” là một cách chơi chữ của tác giả.
[33] Ở đây lại có nghĩa là nói năng, làm ầm ĩ lên.
[34] Cổ nhân có câu: “Nộ giả thường tình, tiếu giả bất khả trắc” (Giận dữ là thói thường, cười thì không thể lường được). Câu này dùng ý ấy.
[35] Câu này ý nói bị giam giữ ở đây lâu, thế nào cũng có ngày mình bị hành hạ điêu đứng hơn, hoặc bị trừ khử.
[36] Câu này ý nói Thuý Kiều nghĩ thân phận của mình như cánh bèo trên mặt nước, ở đâu thì cũng là lênh đênh cả, không còn quản gì.
[37] Vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh đúc bằng vàng bạc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Hồi 17