30/06/2022 05:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Binh xa hành
兵車行

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 13/06/2005 20:14

 

Nguyên tác

車轔轔,
馬蕭蕭,
行人弓箭各在腰。
耶孃妻子走相送,
塵埃不見咸陽橋。
牽衣頓足攔道哭,
哭聲直上干雲霄。
道旁過者問行人,
行人但云點行頻。
或從十五北防河,
便至四十西營田。
去時里正與裹頭,
歸來頭白還戍邊。
邊亭流血成海水,
武皇開邊意未已。
君不聞漢家山東二百州,
千村萬落生荊杞。
縱有健婦把鋤犁,
禾生隴畝無東西。
況復秦兵耐苦戰,
被驅不異犬與雞。
長者雖有問,
役夫敢申恨。
且如今年冬,
未休關西卒。
縣官急索租,
租稅從何出。
信知生男惡,
反是生女好。
生女猶得嫁比鄰,
生男埋沒隨百草。
君不見青海頭,
古來白骨無人收。
新鬼煩冤舊鬼哭,
天陰雨濕聲啾啾。

Phiên âm

Xa lân lân,
Mã tiêu tiêu,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Gia nương thê tử tẩu tương tống,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều[1].
Khiên y đốn túc lan đạo khốc,
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân,
Hành nhân đãn vân: điểm hành tần.
Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà[2],
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.
Khứ thời lý chính dữ khoả đầu,
Quy lai đầu bạch hoàn thú biên.
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng[3] khai biên ý vị dĩ.
Quân bất văn: Hán gia[4] Sơn Đông nhị bách châu,
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ?
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê,
Hoà sinh lũng mẫu vô đông tê.
Huống phục Tần[5] binh nại khổ chiến,
Bị khu bất dị khuyển dữ kê!
Trưởng giả tuy hữu vấn,
Dịch phu cảm thân hận!
Thả như kim niên đông[6],
Vị hưu Quan Tây tốt[7].
Huyện quan cấp sách tô,
Tô thuế tòng hà xuất?
Tín tri sinh nam ác,
Phản thị sinh nữ hảo.
Sinh nữ do đắc giá tị lân,
Sinh nam mai một tuỳ bách thảo.
Quân bất kiến Thanh Hải[8] đầu,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu?
Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,
Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.

Dịch nghĩa

Xe chạy ầm ầm
Ngựa hý vang
Người ra đi cung tiễn đều đeo bên lưng
Cha mẹ vợ con đi đưa tiễn
Bụi tung mù mịt chẳng thấy cầu Hàm Dương
Níu áo, giậm chân, khóc lóc đầy đường
Tiếng khóc than vang lên đến tầng mây cao
Người đi đường qua đó hỏi kẻ ra đi
Kẻ ra đi đáp rằng luôn có việc bắt lính
Có người mới mười lăm tuổi đã đi phòng giữ Hoàng Hà phía bắc
Ðến bốn mươi tuổi thì đổi qua khai thác ruộng đất ở phía tây
Khi ra đi viên lý trưởng cho chiếc khăn bịt đầu
Khi trở về đầu đã bạc lại đi trấn thủ biên cương
Ở biên thuỳ máu chảy thành sông thành biển
Ý muốn mở mang bờ cõi của Vũ Hoàng vẫn chưa ngưng
Ông không nghe sao: Mé Sơn Đông nhà Hán gồm hai trăm châu
Ngàn thôn vạn xóm gai góc mọc đầy
Dầu có những người đàn bà khoẻ mạnh vác nổi cây bừa
Thì lúa mọc bừa bãi trên đồng ruộng cũng chẳng có được gì
Quân Tần lại đánh gấp ghê
Bị lùa đi chẳng khác gì gà chó
Ngài dù có hỏi đến
Nhưng kẻ dịch phu này đâu dám tỏ hết nỗi oán hận
Còn như mùa đông năm nay
Lính ở Quan Tây chưa được nghỉ
Quan huyện hối thúc nộp thuế
Thuế tô biết lấy đâu ra
Thế mới biết sinh con trai là xấu
Ngược lại, sinh con gái mới tốt
Sinh con gái còn được gả chồng gần
Sinh con trai chỉ tổ vùi thây trong đám cỏ
Ngài thấy chăng: ở miền Thanh Hải
Xưa đến giờ đống xương trắng không ai thu dọn
Ma mới oán than, ma cũ khóc lóc
Trời đất âm u, mưa rơi rả rích, tiếng than rên rỉ

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Xe rầm rầm,
Ngựa hí râng,
Người đi cung tên đeo bên lưng.
Cha mẹ, vợ con chạy theo tiễn,
Bụi mù chẳng thấy cầu Hàm Dương.
Níu áo giậm chân, chặn đường khóc,
Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng.
Khách qua đường thấy, hỏi người đi,
Người rằng: "Bắt đi những mấy kỳ.
Lấy từ mười lăm giữ Hoàng Hà,
Cho đến bốn mươi ra khẩn điền.
Lúc đi ông lý quấn chỏm cho,
Trở về đầu bạc lại đi liền.
Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ,
Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ.
Há chẳng nghe: nhà Hán Sơn Đông hai trăm châu,
Ngàn thôn muôn xóm ùn gai cỏ.
Ví có đàn bà khoẻ cuốc cày,
Lúa mọc tràn lan khắp bốn bề.
Huống nữa quân Tần quen khổ chiến,
Khác chi gà chó bị lùa đi.
Thương tình, dù ông hỏi,
Nỗi hờn đâu dám nói,
Và mùa đông năm nay,
Lính Quan Tây chưa nghỉ.
Nhà vua bức đòi tô,
Chạy đâu ra tô thuế?
Mới biết sinh con trai,
Chẳng bằng sinh con gái.
Sinh con gái còn được gả gần nhà,
Sinh con trai lấp vùi theo cỏ dại!
Há chẳng thấy miền Thanh Hải kia sao?
Xưa nay xương trắng ai nhặt đâu!
Ma mới kêu oan, ma cũ khóc,
Trời âm mưa thấm, tiếng hu hu
(Năm 752)

Lời tự: Viên tiết độ sứ ở Kiếm Nam chuyển quân đánh Nam Chiếu, vùng Vân Nam bị bại, nhưng tể tướng Dương Quốc Trung dấu nhẹm, sai các đạo tuyển mộ binh sĩ chuyển về Kiếm Nam trợ lực.

[1] Cầu lớn trên sông Vị ngoài thành Trường An.
[2] Lúc đó Thổ Phồn hay xâm nhập vùng tây bắc Trung Quốc, nay thuộc vùng Cam Túc, Ninh Hạ.
[3] Ám chỉ Đường Huyền Tông.
[4] Ám chỉ nhà Đường.
[5] Đất Quan Trung, nay là vùng Thiểm Tây.
[6] Chỉ tháng chạp năm Thiên Bảo thứ 9 (750).
[7] Quân lính ở Quan Trung, còn bị đưa đi đánh Thổ Phồn.
[8] Một tỉnh rộng thứ nhì của Trung Quốc, ở phía tây bắc. Mang tên này nhờ hồ nước mặn Thanh Hải. Bắc có núi Kỳ Liên 祁連, nam có núi Ba-nhan-khách-lạt 巴顏喀喇山 (Bayar Har). Là địa bàn sinh hoạt của người Hồi, Tạng, Mãn, Mông. Khí hậu khe khắt.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Binh xa hành