28/11/2022 06:43Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lưu Hoa Môn
留花門

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 27/01/2009 03:56

 

Nguyên tác

北門天驕子,
飽肉氣勇決。
高秋馬肥健,
挾矢射漢月。
自古以為患,
詩人厭薄伐。
修德使其來,
羈縻固不絕。
胡為傾國至,
出入暗金闕。
中原有驅除,
隱忍用此物。
公主歌黃鵠,
君王指白日。
連雲屯左輔,
百里見積雪。
長戟鳥休飛,
哀笳曙幽咽。
田家最恐懼,
麥倒桑枝折。
沙苑臨清渭,
泉香草豐潔。
渡河不用船,
千騎常撇烈。
胡塵踰太行,
雜種抵京室。
花門既須留,
原野轉蕭瑟。

Phiên âm

Bắc môn thiên kiêu tử,
Bão nhục khí dũng quyết.
Cao thu mã phì kiện,
Hiệp thi xạ Hán nguyệt.
Tự cổ dĩ vi hoạn,
Thi nhân yếm bạc phạt.
Tu đức sử kỳ lai,
Ky my cố bất tuyệt.
Hồ vi khuynh quốc chí,
Xuất nhập ám kim khuyết.
Trung Nguyên hữu khu trừ,
Ẩn nhẫn dụng thử vật.
Công chúa[1] ca hoàng hộc,
Quân vương chỉ bạch nhật.
Liên vân truân tả phụ,
Bách lý kiến tích tuyết.
Trường kích điểu hưu phi,
Ai già thự u yết.
Điền gia tối khủng cụ,
Mạch đảo tang chi chiết.
Sa Uyển[2] lâm Thanh Vị[3],
Tuyền hương thảo phong khiết.
Độ hà bất dụng thuyền,
Thiên kỵ thường phiết liệt.
Hồ trần du Thái Hàng,
Tạp chủng để kinh thất.
Hoa Môn ký tu lưu,
Nguyên dã chuyển tiêu sắt.

Dịch nghĩa

Người Hoa Môn đứa con trời đánh đó,
Là dân ăn thịt, tính tình ngược ngang.
Trời thu cao, ngựa béo mạnh,
Lắp tên bắn trăng nhà Hán.
Từ xưa đến nay vẫn thường gây hại,
Chuyện này đã từng được ghi chép trong thơ văn.
Lấy đức mà đối đãi với họ,
Thì đời đời sẽ giữ được mối giao hảo.
Tại sao lại bỏ cái chí nghiêng nước,
Để cho chúng ra vào nơi cửa vàng.
Vùng trung nguyên vì có loạn An Lộc Sơn,
Nên mới phải dùng đến người Hoa Môn.
Một công chúa đã hát bài hoàng hộc,
Vua đã từng chỉ mặt trời mà thề.
Nơi quân Hồi Hột mây trời vần vũ bay,
Tuyết đóng cả hàng ngàn dặm.
Dáo dài ngăn cản cánh chim bay,
Tiếng khèn nghe thật ai oán.
Nông dân thấy thế rất sợ hãi,
Lúa bung gốc, cành dâu gãy.
Nơi Sa Uyển, rồi sông Thanh, Vị,
Nơi cỏ thơm gió mát.
Chúng qua sông không dùng đến thuyền bè,
Lũ con trời ngang ngược như thế đó.
Bọn giặc làm tung bụi cho đến cả dãy núi Thái Hàng,
Giống quê mùa mà lên làm loạn thành thị.
Đã giữ người Hoa Môn lại,
Đồng bằng đến tan nát thôi.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Hoa Môn con trời cưng,
Ăn thịt khí hung hăng.
Giữa thu ngựa béo khoẻ,
Cắp tên xông bắn trăng.
Mối hoạn từ xưa ấy,
Đánh dẹp thơ còn vang.
Kết hoà xui nó đến,
Khó dứt mối dây ràng.
Sao để tràn cả nước,
Vào ra nghịt cửa vàng.
Trung Nguyên còn có loạn,
Buộc lòng mượn chúng sang.
Nhà vua chỉ trời thệ,
Công chúa ca hộc vàng.
Liền mây đồn đóng dọc,
Trăm dặm mờ tuyết dăng.
Giáo dài chim dứt lối,
Kèn sáng nghe buồn thương.
Nhà nông rất sợ hãi:
Lúa phá, dâu chặt càn.
Nơi nước trong cát trắng,
Vùng cỏ tốt suối hương.
Qua sông chẳng cần thuyền,
Ngàn ngựa thường vượt băng.
Bụi Hồ mờ non Thái,
Tạp chung hãm Lạc Dương.
Hoa Môn nên giữ lại,
Đồng nội xơ xác dần.
Lời tự: "Cam Châu đông bắc thiên dư lý hữu Cư Diên hải. Hựu bắc tam bách lý, hữu Hoa Môn sơn bảo. Hựu đông bắc thiên lý, chí Hồi Hột nha trướng. Túc Tông hoàn tây kinh, diệp hộ[4] từ quy. Tấu viết Hồi Hột chiến binh lưu tại Sa Uyển, kim quy Linh Hạ thủ mã, cánh vi bệ hạ thu Phạm Dương dư nghiệt. 甘州東北千餘里有居延海。又北三百里有花門山堡。又東北千里至回紇牙帳。肅宗還西京,葉護辭歸。奏曰回紇戰兵留在沙苑,今歸靈夏取馬,更為陛下收范陽餘孽 (Hơn ngàn dặm về phía đông bắc Cam Châu có biển Cư Diên. Lại phía bắc ba trăm dặm có thành Hoa Môn sơn. Lại ở phía đông bắc ngàn dặm, tới trại quân Hồi Hột. Túc Tông trở về kinh đô Trường An, diệp hộ từ chối không chịu về nước. Tâu rằng lính Hồi Hột lưu lại Sa Uyển, nay về Linh Hạ canh ngựa, đặng giúp bệ hạ dẹp tàn dư bọn giặc ở Phạm Dương.)

Bài này làm năm 759 sau khi Đỗ Phủ từ chức Tư công tham quân Hoa Châu, đem gia quyến lên miền tây bắc đến Tần Châu (Cam Túc). Hoa Môn chỉ quân Hồi Hột (dân tộc Duy Ngô Nhĩ ngày nay). Theo truyện Hung Nô trong Hán thư, người Hồ là con cưng của trời, ý nói cương ngạnh, kiêu căng. Khi An Lộc Sơn chiếm Trường An, Túc Tông bèn xin quân Hồi Hột viện trợ và ước định nếu thu phục được hai kinh đô thì đất đai, nhân dân sẽ thuộc sở hữu nhà Đường, còn vàng bạc, lụa là, phụ nữ thì để cho quân Hồi Hột. Quân Hồi Hột chiếm lại được Lạc Dương, Túc Tông đáp công của họ đem con gái mình là Ninh Quốc công chúa gả cho Hồi Hột cầu thân. Quân Hồi Hột vẫn ở lại kinh đô, chiếm đóng nhiều nơi trong nước, phá hoại tài sản nhân dân. Tác giả viết bài này để phản đối chính sách ngoại giao của triều đình, đề là "Giữ Hoa Môn" nhưng chính lại muốn nói không thể giữ Hoa Môn lại được.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
[1] Tháng 7 năm 758, Túc Tông gả con gái út là Ninh Quốc công chúa cho vua Hồi Hột để cầu thân. Tương tự như đời Hán Vũ Đế gả công chúa cho vua Ô Tôn. Khi công chúa ở trong nước Ô Tôn, u sầu làm bài ca có câu "Nguyện vi hoàng hộc hề quy cố hương" 願為黃鵠兮歸故鄉 (Xin mong làm chim hộc vàng bay về nơi quê cũ).
[2] Thuộc Đồng Châu, huyện Bằng Dực (nay là Đại Lệ, tỉnh Thiểm Tây).
[3] Sông Thanh, Vị, ở Trường An.
[4] Chức quan của người Đột Quyết, chức vị gần với khả hãn, cầm đầu một phân bộ trong toàn bộ lạc, tương đương với chức đại đô đốc của nhà Đường. Thông thường giữ chức này được trao cho con em hay người trong gia đình của khả hãn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Lưu Hoa Môn