25/09/2021 06:39Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tống Vi thập lục bình sự sung Đồng Cốc quận phòng ngự phán quan
送韋十六評事充同谷郡防禦判官

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 11/01/2015 18:49

 

Nguyên tác

昔沒賊中時,
潛與子同遊。
今歸行在所,
王事有去留。
逼側兵馬間,
主憂急良籌。
子雖軀幹小,
老氣橫九州。
挺身艱難際,
張目視寇讎。
朝廷壯其節,
奉詔令參謀。
鑾輿駐鳳翔,
同谷為咽喉。
西扼弱水道,
南鎮枹罕陬。
此邦承平日,
剽劫吏所羞。
況乃胡未滅,
控帶莽悠悠。
府中韋使君,
道足示懷柔。
令侄才俊茂,
二美又何求。
受詞太白腳,
走馬仇池頭。
古色沙土裂,
積陰雪雲稠。
羌父豪豬靴,
羌兒青兕裘。
吹角向月窟,
蒼山旌旆愁。
鳥驚出死樹,
龍怒拔老湫。
古來無人境,
今代橫戈矛。
傷哉文儒士,
憤激馳林丘。
中原正格鬥,
後會何緣由。
百年賦命定,
豈料沉與浮。
且復戀良友,
握手步道周。
論兵遠壑淨,
亦可縱冥搜。
題詩得秀句,
劄翰時相投。

Phiên âm

Tích một tặc trung thì,
Tiềm dữ tử đồng du.
Kim quy hành tại sở,
Vương sự hữu khứ lưu.
Bức trắc binh mã gian,
Chủ ưu cấp lương trù.
Tử tuy khu cán tiểu,
Lão khí hoành cửu châu.
Đĩnh thân gian nan tế,
Trương mục thị khấu thù.
Triều đình tráng kỳ tiết,
Phụng chiếu linh tham mưu.
Loan dư trú Phụng Tường,
Đồng Cốc vi yết hầu.
Tây ách nhược thuỷ đạo,
Nam trấn Phu Hãn tưu.
Thử bang thừa bình nhật,
Phiếu kiếp lại sở tu.
Huống nãi Hồ vị diệt,
Khống đới mãng du du.
Phủ trung Vi sứ quân,
Đạo túc thị hoài nhu.
Lệnh điệt tài tuấn mậu,
Nhị mĩ hựu hà cầu.
Thụ từ Thái Bạch cước,
Tẩu mã Cừu Trì đầu.
Cổ sắc sa thổ liệt,
Tích âm tuyết vân trù.
Khương phụ hào trư ngoa,
Khương nhi thanh huỷ cừu.
Xuy giác hướng nguyệt quật,
Thương sơn tinh bái sầu.
Điểu kinh xuất tử thụ,
Long nộ bạt lão thu.
Cổ lai vô nhân cảnh,
Kim đại hoành qua mâu.
Thương tai văn nho sĩ,
Phẫn kích trì lâm khâu.
Trung nguyên chính cách đấu,
Hậu hội hà duyên do.
Bách niên phú mệnh định,
Khởi liệu trầm dữ phù.
Thả phục luyến lương hữu,
Ác thủ bộ đạo chu.
Luận binh viễn hác tĩnh,
Diệc khả túng minh sưu.
Đề thi đắc tú cú,
Tráp hàn thì tương đầu.

Dịch nghĩa

Xưa lúc còn ở trong vùng địch tạm chiếm,
Chúng ta đã lẻn trốn đi.
Nay tới được chỗ vua đóng đô tạm rồi,
Vì việc nhà vua cần nên có kẻ ở người đi.
Trong cảnh loạn lạc thật là vất vả,
Bậc chủ cần gấp nhân số bổ xung đúng.
Anh tuy thân phận thấp bé,
Nhưng có chí vang chín châu.
Gồng mình chịu đựng cảnh khó khăn,
Trừng mắt nhìn bọn quân thù.
Nơi triều đình tỏ ý chí dũng mạnh,
Nhận chiếu đi giữ chức tham mưu.
Xe loan dừng nơi Phụng Tường (nơi vua ở),
Thì Đồng Cốc chính là yết hầu đó.
Về phía tây nó chắn đường thuỷ cạn,
Phía nam nó chặn cái góc Phu Hãn.
Vùng này ngày thường cần phải lo,
Đó là nhiệm vụ của quan lại diệt trừ nạn cướp bóc.
Huống chi giặc Hồ chưa dẹp yên,
Việc trừng phạt còn đang rối ren lắm.
Trong phủ có sứ quân họ Vi,
Cách trị nhậm của ông đủ tỏ sự vỗ về dân chúng.
Nay có thêm người cháu có tài tới giúp,
Có hai cái tốt đó còn nói gì hơn nữa.
Nhận lời từ chân núi Thái Bạch,
Ruổi ngựa nơi đầu Cừu Trì.
Sắc úa đất cát tung bay,
Tù mù tuyết với mây nhiều.
Với dân tộc Khương, cha thì đi giày da nhím,
Con thì mặc áo da trâu nước.
Thổi tù và hướng về hang có trăng soi,
Núi xanh cờ xí buồn thiu.
Chim hoảng sợ bay cỏi cây khô,
Rồng tức mình vùng khỏi ao cạn.
Từ xưa tới nay không phải là cõi người sinh sống,
Đời nay lại là chốn gươm dáo vung.
Thương thay cho một kẻ sĩ nhà nho kiêm nhà văn,
Giận dữ phi ngựa trong gò rừng.
Nơi trung nguyên mới là chiến trường chính,
Các biến chuyển về sau là do nơi này quyết định.
Trăm năm đã mặc cho số mênh qui định rồi,
Thế thì lo chìm nổi để mà làm gì.
Bèn cứ thấy mến cái người bạn hiền,
Cứ khoanh tay đi vòng quanh trên đường.
Bàn về việc binh nơi hang im lìm xa kia,
Cũng có thể vung lên ra khắp nơi được.
Làm bài thơ có được câu hay,
Túi thơ đem cất vào.

Bản dịch của Phạm Doanh

Xưa cùng kẹt trong vùng địch chiếm,
Tôi với ông cùng kiếm cách đi.
Chỗ vua đóng nay trở về,
Việc nước cần có người đi, kẻ chầu.
Trong cơn giặc biết bao trắc trở,
Vua gấp lo tuyển bổ các quan.
Anh tuy là một viên quèn,
Nhưng mà chí lớn vung tràn cửu châu.
Gồng thân khi đương đầu khó nhọc,
Đưa mắt nhìn tròng trọc quân thù.
Trong triều tỏ chí sĩ phu,
Theo lệnh chiếu cử, tham mưu dự phần.
Nơi Phụng Tường xe loan tạm đỗ,
Đồng cốc kia là chỗ yết hầu.
Tây ngăn đường nước đục ngầu,
Nam chặn Phu Hãn cái đầu mấu con.
Vùng này may vẫn còn ngày rảnh,
Nạn cướp bóc quan tỉnh phải lo.
Huống chi chưa diệt xong Hồ,
Chống giữ trong cảnh tù mù lung tung.
Vi sứ quân ở trong phủ đó,
Biết chăm lo phủ dụ dân rồi.
Lại thêm người cháu có tài,
Được hai cái tốt còn đòi gì hơn.
Nhận lời từ gót chân Thái Bạch,
Đầu Cửu Trì ngựa lách len chui.
Một vùng gió cát tơi bời,
Mây che bóng tối, tuyết rơi thật dầy.
Cha Khương, chân đi giày da nhím,
Con thì mặc áo tấm da trâu.
Thổi khèn hướng tới hang sâu,
Núi xanh cờ xí trông rầu biết bao.
Chim hoảng sợ bay ào khỏi tổ,
Rồng tức mình hối hả rời hồ.
Từ xưa vốn chỗ hoang sơ,
Nay thành một chốn gươm so, dáo vùng.
Chàng nho sinh thật thương cho số,
Vó ngựa tung ở chỗ rừng sâu.
Trung nguyên là chỗ tranh nhau,
Các nơi từ đó khởi đầu mà ra.
Trăm năm đã chẳng qua số mệnh,
Liệu làm sao mà tránh gập ghềnh.
Chỉ vì mến bạn thân tình,
Chắp tay đi bộ loanh quanh trên đường.
Bàn việc binh nơi hang xa vắng,
Cũng có thể dùng đúng các nơi.
Làm thơ có được câu hay,
Mở tráp thơ vội cất ngay tức thì.
(Năm 757)

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tống Vi thập lục bình sự sung Đồng Cốc quận phòng ngự phán quan